Diễn đàn của những bạn trẻ đang yêu


 
Trang ChínhCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 luật làm thơ tổng hợp

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
hoàng tử thành rome
Quản trị viên
Quản trị viên
avatar

Tâm trạng : happy
Nam
Tổng số bài gửi : 1491
Age : 30
Đến từ : tp hcm
Châm ngôn sống : tien
Số lần được cám ơn : 53
Điểm : 30075
Ngày tham gia : 20/03/2010

Bài gửiTiêu đề: luật làm thơ tổng hợp   Tue Feb 22, 2011 7:28 pm

Các bạn thân mến!!!
linh mới đi thu lượm cách làm thơ về nè, các bạn nên đọc lại luật thơ để có một bài thơ hay nha!!!
*Thơ Luật *
Lượm về cho các bạn tham khảo

Sự phối trí thanh và âm

Loại thanh ________________ Tên các thanh __________ Dấu chỉ thanh
Bằng _________________ phù bình thanh
_________________ trầm thượng thanh ________ không có dấu dấu huyền
Trắc _________________ phù thương thanh _____ ngã (~)
_________________ trầm thương thanh ________ hỏi (?)
_________________ phù khứ thanh ___________ sắc (')
_________________ trầm khứ thanh ___________ nặng (.)
_________________ phù nhập thanh __________ sắc (')
_________________ Trầm nhập thanh __________ nặng (.)


Bình là bằng phẳng, đều đều, bình thường; trắc là nghiêng lệch. Âm thanh đang ở mức bình thường (bình thanh) chợt bổng lên cao hay đổ xuống thấp hơn (trắc thanh).

Nếu lựa từ sao cho có âm và thanh tương hợp thì khi đọc lên sẽ nghe êm tai, ta gọi lời văn có vần. Hai tiếng vần với nhau khi có âm tương tự và có cùng thanh (hoặc là cùng bình thanh hoặc là cùng trắc thanh). Trong thơ, vấn đề hợp vần là điều cốt yếu. Sự phối trí âm thanh nhịp điệu là yếu tố cơ bản của thơ.

1. Vần có 2 thứ:

a. bình: những chữ không dấu hoặc dấu huyền — hai, hài

b. trắc: những chữ có dấu hỏi, ngã, sắc, nặng — hải, hãi, hái, hại

Tiếng bình không vần với tiếng trắc: hai không vần với hải.

Cùng trông mà lại cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh nhữngmấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng, ý thiếp, ai sầu hơn ai?

Những tiếng "thấy", "mấy" cùng phát ra một âm "ây" cùng gieo trắc thanh. Những tiếng "dâu", "màu", "sầu" có âm "âu" và "au" tương tự, cùng gieo bình thanh. Tất cả từng cặp một như thế gọi là vần với nhau.

2. Vần thể giàu hay nghèo:

a. vần giàu: những tiếng có cùng âm và thanh
Phương, sương, cường, trường — vần trắc giàu
Thánh, cảnh, lãnh, ánh — vần bằng giàu

b. vần nghèo: đồng thanh nhưng với âm tương tự
Minh, khanh, huỳnh, hoành — vần bằng nghèo
Mến, lẽn, quyện, hển — vần trắc nghèo

3. Trong thơ Việt, có 2 cách gieo vần

a. Gieo vần ở giữa câu:
Tiếng cuối của câu trên vần với một tiếng nằm bên trong câu dưới. Như trong thể thơ lục bát, tiếng cuối câu lục vần với tiếng 6 câu bát theo sau.

Người đâu gặp gỡ làm chi
Trăm năm biết có duyên gì hay không.

Nguyễn Du

b. Gieo vần ở cuối câu:
Các tiếng cuối câu vần với nhau.

Vần tiếp: các cặp trắc bằng xen kẽ tiếp nhau

Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm,
Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em.
Không gì buồn bằng những buổi chiều êm,
Mà ánh sáng đều hòa cùng bóng tối.
Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối;
Vài miếng đêm u uất lẩn trong cành;
Mây theo chim về dãy núi xa xanh
Từng đoàn lớp nhịp nhàng và lặng lẽ.
Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ.

Xuân Diệu

Vần tréo: Trong thi đoạn bốn câu, tiếng cuối câu 1 vần với câu 3 và tiếng cuối câu 2 vần với câu 4.

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua

Vũ Ðình Liên

Nhiều khi chỉ cần tiếng cuối câu 2 vần với câu 4 thôi.

Xa quá rồi em người mỗi ngả
Bên này đất nước nhớ thương nhau
Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?

Quang Dũng

Vần ôm: Trong thi đoạn bốn câu, tiếng cuối câu 1 vần với câu 4 và tiếng cuối câu 2 vần với câu 3. Vần trắc ôm vần bằng, hay ngược lại.

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng

Nguyên Sa

Vần ba tiếng: Trong thi đoạn bốn câu, tiếng cuối câu 1, 2 và 4 vần với nhau. Câu 3 khác vần.

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Thâm Tâm

ST
Các loại thơ khác
Thơ bốn chữ

Nếu tiếng thứ 2 bằng thì tiếng thứ 4 trắc; ngược lại, tiếng thứ 2 trắc thì tiếng thứ 4 bằng.

2 4
trắc bằng
2 4
bằng trắc

Nhưng nhiều khi câu thơ cũng không theo luật đó.

Cách gieo vần

1. Vần tiếp (ít dùng)

Lính đóng ven rừng
Giữa mùa nóng nực
Uống cạn hố nước
Thấy toàn đầu lâu
Thịt rữa đi đâu
Còn xương trắng nhỡn

Trần Đức Uyển

2. Vần tréo

Tôi làm con gái
Buồn như lá cây
Chút hồn thơ dại
Xanh xao tháng ngày

Nhã Ca

Người từ trăm năm
Về ngang sông rộng
Ta ngoắc mòn tay
Trùng trùng gió lộng

Nguyễn Tất Nhiên

3. Vần ôm

Em tan trường về
Ðường mưa nho nhỏ
Chim non giấu mỏ
Dưới cội hoa vàng

Phạm Thiên Thư

4. Vần ba tiếng (ít dùng)

Sao biếc đầy trời
Sầu trông viễn khơi
Ðêm mờ im lặng
Nhìn hạt sương rơi

Khổng Dương

Em là ánh trăng
Vừa biếc vừa xanh
Em là giấc mộng
Ðêm xuân của anh

Huyền Kiêu
Thơ song thất lục bát
Đây cũng là một thể thơ đặc thù của VN, gồm hai câu bảy chữ và hai câu lục bát. Tác phẩm Chinh Phụ Ngâm đã được viết trong thể thơ này. Trong câu thất trên, tiếng thứ 3 là trắc, 5 bình, 7 trắc; trong câu thất dưới, tiếng thứ 3 là bình, 5 trắc, 7 bình. Hai câu lục bát thì theo luật thường lệ.
Tiếng cuối câu thất trên vần với tiếng 5 câu thất dưới, tiếng cuối câu thất dưới vần với tiếng cuối câu lục, tiếng cuối câu lục vần với tiếng 6 câu bát. Và tiếng cuối câu bát vần với tiếng 5 của câu thất tiếp theo. Tuy nhiên, tiếng cuối câu bát cũng có thể vần với tiếng 3 câu thất, biến tiếng này đổi sang vần bình. Do đó, tiếng 3 trong câu thất trên có thể là trắc hay bằng.


3 5 7
trắc/bằng bằng trắc
3 5 7
bằng trắc bằng

Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
Thành liền mong tiến bệ rồng,
Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.
Giã nhà đeo bức chiến bào,
Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu.

Đặng Trần Côn
Sưu tầm
Bổ sung thêm cho hoàn chỉnh thể thơ STLB

Tác giả bài viết : Viễn Phương
Song Thất Lục Bát cũng như Lục Bát là loại thơ riêng của Việt Nam ta , luật thơ nầy không có liên quan hay dính líu gì với thơ của Trung Hoa, như thơ Đường Luật .

Cấu Trúc Thơ Song Thất Lục Bát

Mỗi đoạn trong bài STLB có 4 câu ( 7,7,6,8 ). Không hạn chế số đoạn
x x x x B x T (v)
x x B x T (v) x B (v)
x B x T x B (v)
x B x T x B (v) T B (v)

(v) = vần
B = bằng
T = trắc
x = là chữ không tính ( bằng hay trắc cũng được )

Luật bằng trắc của thơ Lục Bát được hoàn toàn áp dụng cho hai câu 6 và 8 . Vần của mỗi đoạn 4 câu là

Câu 1 chữ thứ 7 (T) => câu 2 chữ thứ 5 (T)
Câu 2 chữ thứ 7 (B) => câu 3 chữ thứ 6 (B) => câu 4 chữ thứ 6 (B)

Giải thích

Chữ thứ 7 (trắc) câu 1 vần với chữ thứ 5 (trắc) câu 2
Chữ thứ 7 (bằng) câu 2 vần với chữ thứ sáu (bằng) câu 3
Chữ thứ 6 (bằng) câu 3 vần với chữ thứ 6 (bằng) câu 4
Sau đoạn thứ nhất , để nối tiếp với đoạn hai thì có thêm luật như sau

Câu 4 chữ thứ 8 (B) => câu 1 đoạn 2 chữ thứ 5 (B)
Hoặc có thể ..

Câu 4 chữ thứ 8 (B) => câu 1 đoạn 2 chữ thứ 3 (B) cài này là " trường hợp ngoại lệ "

Nghĩa là chữ cuối của câu 4 phải vần với chữ thứ 5 ( hay 3 ) của câu đầu đoạn kế tiếp , nếu không theo đúng điều nầy thì các đoạn thơ trong bài sẻ bị rời rạc không kết thành một chuổi dài cho bài thơ .

Qua đó ta nhìn thấy loại thơ nầy rất là đặc sắc nhưng lại ít có người làm , có lẻ vì có quá nhiều sự kết hợp của vần luật cho nên người ta ít làm thơ STLB , từ xưa đến nay chỉ có tác phẩm ( Chinh Phụ Ngâm Khúc ) được nổi tiếng và chưa có tác phẩm nào khác có thể sánh được

Viễn Phương xin lấy bài thơ Dư Âm Ngày Tháng Hạ để làm thí dụ

Những chữ được viết HOA ( Tô Đậm ) là vần với nhau , chữ có dấu ( * ) vần nối hai đoạn

Dư Âm Ngày Tháng Hạ

Mùa hè đến sân trường rộn Rã
Phượng đỏ màu nắng Hạ vàng Hong
Ve sầu vang tiếng kêu Trông
Tạ từ ba tháng nghe Lòng nhớ Mong

Hạ đi , đến , chất Chồng tuổi Dại
Kỹ niệm rồi bỏ Lại sau Lưng
Bao mùa hạ mãi nhớ Nhung
Bạn bè một thuở cùng Chung mái Trường

Mùa Hạ cuối tình Vương , lưu Luyến
Nhìn bạn hiền xao Xuyến tâm Tư
Lắng nghe từng tiếng giã Từ
Cõi hồn man mác , lòng Như tơ Vò

Dòng lệ ứa đôi Bờ mắt Biếc
Tay trong tay nuối Tiếc ngày Qua
Giọt sầu từng giọt tuôn Sa
Cho dòng lưu bút thấm Nhòa mực Xanh

Thầy cô đó tình Thân muôn Thủa
Bạn bè đây đâu Nở chia Xa
Mái trường năm tháng che Ta
Một thời thơ dại bước Qua cuộc Đời

Từ độ ấy !- Trao Lời tiễn Biệt
Bước phong trần ai Biết ra Sao
Dặm trường ước vọng bay Cao
Buồn tim ray rức thuở Nào cho Nguôi

Người quê mẹ ngược Xuôi vất Vả
Kẻ tha hương trăm Ngả buồn Thương
Bao mùa hạ đến sầu Vương
Nhớ hàng phượng đỏ mái Trường xanh rêu ../..
Thơ sáu chữ


Cách gieo vần
1. Vần tréo

Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều

Đỗ Trung Quân

2. Vần ôm

Xuân hồng có chàng tới hỏi:
-- Em thơ, chị đẹp em đâu?
-- Chị tôi tóc xõa ngang đầu
Đi bắt bướm vàng ngoài nội

Huyền Kiêu


Nếu bước chân ngà có mỏi
Xin em tựa sát lòng anh
Ta đi vào tận rừng xanh
Vớt cánh vông vàng bên suối

Đinh Hùng



Thơ lục bát

Lục bát là thể thơ đặc biệt của Việt Nam, mà truyện Kiều là tác phẩm tiêu biểu nhất. Vần thơ lục bát có thể phân tách như sau:

2 4 6
bằng trắc bằng
2 4 6 8
bằng trắc bằng bằng

Tiếng thứ 6 của câu lục vần với tiếng thứ 6 của câu bát. Tiếng thứ 8 của câu bát vần với tiếng thứ 6 của câu lục tiếp theo. Trong câu bát, tiếng 6 và 8 tuy cùng vần bình nhưng một tiếng có dấu huyền và một tiếng không có dấu.

Thôn đoài ngồi nhớ thôn Ðông
Một người chín nhớ mười mong một người
Gió mưa là bệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Nguyễn Bính


Bỗng dưng buồn bã không gian
Mây bay lũng thấp giăng màn âm u
Nai cao gót lẫn trong mù
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về.

Huy Cận

Có hai ngoại lệ trong thơ lục bát:

1. Tiếng thứ 2 câu lục có thể là trắc, khi ấy nhịp thơ ngắt ở giữa câu.

Người nách thước, kẻ tay đao
Đầu trâu mặt ngựa, ào ào như sôi.

Nguyễn Du

2. Tiếng cuối câu lục có thể vần với tiếng 4 câu bát, khi đó tiếng 2 và 6 của câu bát sẽ đổi ra trắc. Câu thơ sẽ ngắt nhịp ở giữa câu bát, như trong câu ca dao sau:

Đêm nằm gối gấm không êm
Gối lụa không mềm bằng gối tay em.




Thơ Đường
Thơ bảy chữ (Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật)
Cách gieo vần trong thơ bẩy chữ

1. Cách thứ nhất :Trong khổ thơ gồm 4 câu, gieo vần ở cuối câu 1,2, 4
Ví dụ :

Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời
Đàn ghê như nước, lạnh trời ơi
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người

Chú ý : theo cách gieo vần này, chữ cuối câu 1,2,4 là vần bằng và chữ cuối câu 3 là vần trắc .

2. Cách thứ hai : Gieo vần ôm - Chữ cuối câu 1 vần với câu 4, chữ cuối câu 2 vần với cuối câu 3
Ví dụ :

Tiếng đàn thầm dịu dẫn tôi đi
Qua những sân cung rộng hải hồ
Có phải A Phòng hay Cô Tô?
Lá liễu dài như một nét mi


3. Cách thứ ba : Gieo vần chéo

Chữ cuối câu 1 vần với cuối câu 3, hoặc chữ cuối câu 2 vần với cuối câu 4

Ví dụ :

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân

Bổ sung thêm về thơ bảy chữ
Trong thơ bảy chữ, vần những tiếng 1, 3 và 5 không kể. Tiếng 2, 4 và 6 có thể phân tích như sau:

2 4 6
bằng trắc bằng
2 4 6
trắc bằng trắc

Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi!
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người
Xuân Diệu

Nhiều khi không lại như thế:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc,
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Hàn Mặc Tử

Cách gieo vần
1. Vần tréo (thường dùng)

Nhiều khi trong thi đoạn bốn câu, chỉ cần hai tiếng bình ở cuối câu hai và bốn vần với nhau, hai tiếng trắc cuối câu một và ba không cần:

Vậy đó bỗng nhiên mà họ lớn,
Tuổi hai mươi đến, có ai ngờ!
Một hôm trận gió tình yêu lại:
Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ.
Huy Cận

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi
Tô Thùy Yên

2. Vần ba tiếng bằng (thường dùng)

Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong,
Hôm xưa em đến, mắt như lòng,
Nở bừng ánh sáng. Em đi đến,
Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng.
Huy Cận

Dĩ vãng nào xanh như mắt em?
Chao ôi! Màu tóc rợn từng đêm!
Hàng mi khuê các chìm sương phủ
Vời vợi ngàn sao nhạt dáng xiêm.
Đinh Hùng

Em ở thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì
Quang Dũng
Thơ thất ngôn bát cú Đường luật (bảy chữ tám câu)
Thất ngôn bát cú (7 tiếng (chữ) 8 câu) là thể cơ bản của thơ Đường luật.

Về Vần: Trong 7 tiếng 8 câu thì chữ cuối câu một và các câu chẳn vần với nhau (vần chân và độc vận). Vần chủ yếu là vần bằng; cũng có vần trắc nhưng ít gặp hơn.

Nếu mở đầu bài thơ bằng T B T (luật trắc) thì bài thơ sẽ theo luật như sau:

câu 1: x T x B x T b (vần)
câu 2: x B x T x B b (vần)
câu 3: x B x T x B t
câu 4: x T x B x T b (vần)
câu 5: x T x B x T t
câu 6: x B x T x B b (vần)
câu 7: x B x T x B t
câu 8: x T x B x T b (vần)

Về Thanh: Phổ biến là luật bằng - vần bằng: Chữ thứ hai, chữ thứ sáu và chữ thứ bảy ở câu một là thanh bằng, còn chữ thứ tư là thanh trắc.
Sơ đồ như sau:

1 bB tT tBB (vần)
2 tT bB tTB (vần)
3 tT bB bTT
4 bB tT tBB (vần)
5 bB tT bBT
6 tT bB tTB (vần)
7 tT bB bTT
8 bB tT tBB (vần)

Chú ý:
nhất, tam, ngũ bất luận
nhị, tứ, lục phân minh

Nghĩa là:
_ Những chữ thứ 1,3,5 không bắt buộc phải theo đúng thanh.
_ Những chữ thứ 2,4,6 bắt buộc phải theo đúng thanh.


Ví dụ:

Hà Nam Tức Sự

Hà Nam danh giá nhất ông cò,
Trông thấy ai ai chẳng dám ho.
Hai mái trống tung đành chịu dột,
Tám giờ chuông đánh phải nằm co.
Người quên mất thẻ âu trời cãi,
Chó chạy ra đường có chủ lo.
Ngớ ngẩn đi xia may vớ được,
Phen này ắt hẳn kiếm ăn to.

Trần Tế Xương

Tức Sự: cảm hứng trước những sự trông thấy. Thơ tức sự là một lối thơ nhân thấy một việc gì mà làm ra.

Cũng có thể có luật trắc - vần bằng: chữ thứ hai và chữ thứ sáu của câu một là trắc và chữ thứ tư và chữ thứ bảy ở câu một là bằng.

Ví dụ:

Hội Tây

Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo,
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.
Bà quan tênh nghếch xem bơi trãi,
Thằng bé lom khom nghé hát chèo.
Cậy sức, cây đu nhiều chị nhún,
Tham tiền, cột mỡ lắm anh leo.
Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu.

Nguyễn Khuyến

Về Niêm: Tức là sự liên hệ về âm luật giữa hai câu thơ chẳn và lẻ đi liền nhau: Chữ thứ hai, chữ thứ tư và chữ thứ sáu của hai câu đó phải cùng thanh bằng hoặc cùng thanh trắc. Phải đúng niêm ở hai câu 2-3, 4-5, 6-7, và 8-1.

Về Bố Cục: Bài thơ thất ngôn bát cú phải được cấu tạo thành bốn phần như sau:

1- Đề:
Hai câu đầu gồm có:
- Phá đề (câu 1): mở vào bài
- Thừa đề (câu 2): nối với phá đề chuẩn bị chuyển tiếp sang phần sau.

2- Thực:
Hai câu tiếp( câu 3 và 4):
- Giải thích đầu đề, bắt đầu vào thân bài. (Hai câu này phải đối nhau)


3- Luận:
Hai câu tiếp(câu 5 và 6):
- Bàn luận vào đầu đề, đi sâu vào thân bài.
- Bốn câu thực và luận yêu cầu phải đối nhau theo từng cặp.

Thí dụ :
Câu 3 đối câu 4
Bà quan tênh nghếch xem bơi trãi,
Thằng bé lom khom nghé hát chèo.

Bà quan đối Thằng bé ; tênh nghếch đối lom khom ; xem bơi trãi đối nghé hát chèo.

Câu 5 đối câu 6

Cậy sức, cây đu nhiều chị nhún,
Tham tiền, cột mỡ lắm anh leo.

Cậy sức đối Tham tiền ; cây đu nhiều chị nhún đối cột mỡ lắm anh leo


4- Kết:
Hai câu cuối:
- Gói chủ đề lại và phát biểu tư tưởng, tình cảm của nhà thơ.

Nhìn chung, xét cả về vần, niêm, luật và bố cục, bài thơ thất ngôn bát cú là một kết cấu hoàn chỉnh, cô đúc, nhưng quá chặt chẽ và gò bó



BỔ SUNG THƠ BÁT NGÔN

CÁCH LÀM THƠ TỰ DO ( Bát Ngôn )


Thơ TD có tất cả 4 cách làm , và Luật Bất Luận của thơ TD là ( Nhất Nhị Tứ bất luận ) , (Tam , Ngủ , Bát phân minh ) , nhưng thể thơ nầy ít có nhiều người theo luật lắm và được cải tiến nhiều ( vì nó được gọi là Tự Do ) nên sau nầy chỉ chú trọng khi viết chỉ cần giữ luật NIÊM VẦN là đủ

Cách thứ nhất:

Câu 1 và câu 3 phải giống nhau về luật BT và niêm Vần với nhau ở chữ cuối, Câu 2 và câu 4 cũng thế, nghĩa là chữ cuối phải vần (niêm) với nhau ! khi sang đoạn khác thì cũng như thể Trường Thiên (nhiều đoạn ) mình có thể đổi vần tuỳ thích

Luật Bằng Trắc trong thể thơ TỰ DO

ttTbBBTT (Niêm )
bbBtTTBB (niêm )
ttTbBBTT (Niêm)
bbBtTTBB (niêm )

Lỡ thương bé nên ngày đêm trộm NHỚ
Câu yêu đương anh khó thốt nên Lời
Ôi giấc mộng miên mang đầy nổi sợ
Tình đơn phương cay đắng lệ thầm RƠI

Cách thứ nhì:

Trong cách này thì 2 câu trên Vần Trắc (niêm) 2 câu dưới Vần Bằng và cũng niêm với nhau

ttTbBBTT (niêm )
ttTbBBTT (niêm)
bbBtTTBB (niêm )
bbBtTTBB (niêm)

Đơn bóng lẽ bao năm dài cách biệt
Niềm thầm kín xót xa ai có biết
Tình trái ngang đè nặng nổi thương tâm
Cố nhân ơi... lạnh lẽo bước thăng trầm ....
....



Cách thứ ba:

Cách nầy luật cũng như cách 1 và 2 , tuy nhiên câu 2 và câu 3 bắt buộc phải niêm nhau, còn câu 1 và 4 thì không đòi hỏi , cách nầy thì thường được viết nhiều nhất và khi mình viết nhiều đoạn thì câu 5 phải Niêm Luật và Vần với chử cuối câu 4 , và câu 9 niêm Luật và Vần với chử cuối câu 8 , and so on...

ttTbBBTT
bbBtTTBB (niêm )
bbBtTTBB (niêm)
ttTbBBTT

TD:

Tháng Sáu Tình Xa

Tôi thoáng nhớ một thời yêu màu trắng
Trước cổng trường khi nhạt nắng chiều buông
Từng cánh hoa ngơ ngác mắt nai buồn
Tay cắp sách phất phơ muôn tà áo

Hồi tưởng lại một chuyện tình huyền ảo
Giữa Hạ buồn trong tháng Sáu vàng hanh
Yêu một nàng con gái tuổi xuân xanh
Tà áo lụa nét hiền lành thôn nữ

Dáng bé bỏng mắt thẹn thùng bỡ ngỡ
Cánh Phượng hồng ,xác Ve nhỏ trao nhau
Rồi mỗi khi trông lá đổ khoe màu
Ru nho nho? bài mưa sầu tháng sáu
........


Cách thứ tư :

Luật Bằng

Cách này thì câu 1 và câu 4 là vần BẰNG , câu 2 và câu 3 vần TRẮC và niêm nhau ! khi làm thì phải từ 4 đoạn trở lên và chỉ giữ một vần Bằng trong khi mình viết Nhiều Đoạn...

TD:


bbBtTTBB
ttTbBBTT (niêm)
ttTbBBTT (niêm)
bbBtTTBB

bbBtTTBB
ttTbBBTT (niêm)
ttTbBBTT (niêm)
bbBtTTBB
........
........

TD:

Trái Đắng

Hiểu gì không ý nghĩa của lòng anh
Ôm mật đắng với niềm đau nghẹn Xót
Em có thể ban lời yêu thật Ngọt
Sưởi tim nầy dù chỉ một lần thôi

Để ấm lòng an ũi trái tim côi
Dù xa cách vẫn tràn đầy hạnh phúc
Nầy em hởi có bao giờ thổn thức
Thả hồn mình theo tiếng gọi con tim ....

( theo trường tương tư )

SONG THẤT LỤC BÁT

Cũng như LỤC BÁT, SONG THẤT LỤC BÁT thường được dùng trong
những truyện thơ, và là thể loại thứ hai của hai thể thơ
"chính tông" của Việt Nam.

Song Thất Lục Bát là loại thơ mở đầu bằng hai câu THẤT, rồi tiếp đến hai câu LỤC BÁT, tạo thành một KHỔ với ý từ
trọn vẹn (có nghĩa là trong 4 câu phải trọn vẹn một ý)

Câu THẤT trên (câu số 1), tiếng thứ 3 là chữ TRẮC, tiếng
thứ 5 là chữ BẰNG, và tiếng thứ 7 là chữ TRẮc và VẬN

Câu Thất dưới (câu số 2), tiếng thứ 3 là chữ BẰNG, tiếng
thứ 5 là chữ TRẮC và VẦN với tiếng thứ 7 của câu trên, tiếng thứ 7 là chữ BẰNG và VẬN

Song Thất Lục Bát không giống như Thất Ngôn Luật theo lối Hán văn, vì luật BẰNG TRẮC được áp dụng trong Song Thất ở chữ thứ 3, thứ 5, mà trong Thất Ngôn Luật thì chữ thứ 3 và chữ thứ 5 lại có thể theo lệ BẤT LUẬN

Sau hai câu Thất là hai câu Lục Bát, theo luật của Lục Batchữ cuối của câu LỤC vần với chữ thứ 7 của câu THẤT thứ nhì

Luật của STLB:

b b t t B b T(v)
t t B b T(v) t B(v)
b B t T b B(v)
b B t T b B(v) t B(v)

(v)=Vần
b = bằng ,không nhất thiết
t = trắc ,không nhất thiết
B = BẰNG , theo luật
T = TRẮC ,theo luật

Thí Dụ :

Thuở trời đất nổi cơn gió Bụi
Khách má hồng nhiều nổi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Nào ai gây dựng cho nên nổi nầy

Trống trường Thành lung Laybóng Nguyệt
Khói Cam Tuyền mờ Mịt khúc Mây
Chín tầng gươm báu trao Tay
Nữa đêm truyền hịch đợi Ngày xuất Chinh

(Chinh Phụ Ngâm Khúc)

Điều ngoại lệ của STLB :

ĐIỀU NGOẠI LÊ.: Thông thường chữ thứ 3 của câu Thắt 1) là vần TRẮC, nhưng trong trường hợp dùng vần BẰNG thì phải có đối ở câu dưới

Thí Dụ đoạn hai của bài trên :

Trống trường Thành lung Laybóng Nguyệt
Khói Cam Tuyền mờ Mịt khúc Mây
Chín tầng gươm báu trao Tay
Nữa đêm truyền hịch đợi Ngày xuất Chinh

thì ta thấy hai câu 7 7 trên được đối nhau từng từ từng chữ

Thí dụ thêm về thơ STLB:

Giấc Mơ Viễn Xứ

Non nước ấy bao giờ trở lại
Để con đây được mãi bên người
Mẹ già lệ đẩm đôi ngươi
Ôm con ve vuốt nụ cười điểm môi

Bờ liễu rũ con ngồi kể chuyện
Bao năm dài lưu luyến quê hương
Tấm lòng một kẽ tha phương
Năm canh ,sáu khắc đoạn trường xót xa

Ôi ước vọng ngắm tà dương xế
Thả hồn mình trên bể hoàng hôn
Trông chiều khói phủ làng thôn
Đếm chuông ngân vọng gõ mồn một vang

Bước chân nhẹ bên hàng phượng vĩ
Ngắm trường làng ôn kỹ niệm xưa
Dầm mình nhẹ gót dưới mưa
Nhớ hồi cấp sách sớm trưa thuở nào

Cầu tre ấy biết bao kỹ niệm
Dòng sông kia như mĩm cười rung
Nhăn mày ẩn chiếu linh lung
Lờ mờ đáy nước bóng khung trời già

Chợt tỉnh giấc hồn đà nhập thể
Nghe đâu đây tiếng dế gọi nhau
Thì ra trống điểm canh thâu
Giấc mơ viễn xứ đêm sâu lở làng

Nam Quan kia phải đang lạnh ngút
Bắc Ải nầy đến lúc giá băng
Lòng quê lệ thảm khó ngăn
Mong sao đất Việt vĩnh hằng thiên thu


Thơ tám chữ


Thể thơ này không có quy luật nhất định, có nghĩa là vần điệu tự do hơn. Thường thì trong câu ở cuối có tiếng trắc thì tiếng 3 trắc, tiếng 5 và 6 bằng; ở cuối có tiếng bằng thì tiếng 3 bằng, tiếng 5 và 6 trắc. Nhưng nhiều lúc cũng không như thế.
Cách gieo vần

1. Vần tiếp

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé,
Tôi sẽ trách -- cố nhiên -- nhưng rất nhẹ;
Nếu trót đi, em hãy gắng quay về,
Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề
Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở.
Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ,
Cho nghìn sau... lơ lửng... với nghìn xưa...

Hồ Dzếnh

2. Vần tréo

Hai đứa kéo nhau chạy vào mộng mị
Giờ tắt thở nằm trên bãi hư vô
Bầy ngựa chứng hàng thùy dương vó bão
Gió đưa trăng lăn vào đá tiếng ru

Tô Thùy Yên

Em sẽ chết với mảnh hồn trống đó
Chúa đứng đón em ở cửa thiên đường
Con trả chúa trái tim hồng lãng mạn
Dưới thế gian con dại dột cho chàng

Trần Mộng Tú

3. Vần ôm

Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường.
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương
Tôi thay mực cho vừa màu áo tím.

Nguyên Sa

Không có em, chắc ngày mai anh chết
Anh sẽ buồn, sẽ kết tội trần gian
Nắng sẽ phôi pha, hoa sẽ úa tàn
Cây thành phố hai hàng giăng nước mắt

Vũ Thành

Muốn cho thơ tám tiếng thêm âm điệu, một số nhà thơ thường vần tiếng 8 câu trên với tiếng 5 hay 6 câu dưới:

Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi
Những hào hùng, uất hận gối lên nhau







THƠ ĐƯỜNG LUẬT


Đường Luật hoặc cận thể là thể thơ đặt ra tự đời nhà Đường (618-907) phải theo niêm luật nhất định.

Thơ tứ tuyệt và thơ bát cú: Theo số câu, thơ Đường Luật chia làm hai lối.

- 1.) Tứ tuyệt, mỗi bài bốn câu;
- 2.) Bát cú, mỗi bài tám câu;

TỨ TUYỆT

Định nghĩa: Tứ là bốn, tuyệt là dứt, ngắt. Lối này gọi thế vì thơ tứ tuyệt là ngắt lấy bốn câu trong bài thơ bát cú mà thành.

Các cách làm thơ tứ tuyệt: Vì một bài thơ bát cú có thể ngắt nhiều cách, nên cũng có nhiều cách làm thơ tứ tuyệt

Nhưng không hoàn toàn đồng ý với định nghĩa này ,thơ tứ tuyệt làm theo cấu trúc khai-thừa-chuyển-hợp, mỗi câu bảy chữ, không yêu cầu đối. Chữ cuối của các câu 1, 2, 4 thường là vần bằng. Chữ cuối của câu 3 có thể vần trắc, cách niêm như thơ thất ngôn bát cú. Ngày nay người ta sửa đổi định nghĩa về thơ tứ tuyệt, rằng thơ tứ tuyệt là thơ gì cũng được, miễn là có bốn câu, và vần luật tất nhiên cũng theo đó mà thay đổ

Mấy lần vào các diễn đàn thơ , thấy các topic tứ tuyệt nhưng chẳng ai viết đúng cả. Cách đây 2 năm , 1 tờ báo khá nổi tiếng ở Việt Nam tổ chức cuộc thi thơ tứ tuyệt : đoạt giải nhất là một bài thơ Lục Bát . Tứ Tuyệt ơi chết thiệt rồi sao ....


Người ta nói thể thơ này dựa theo cấu Nhất Tam Ngũ bất luận ,Nhị Tứ Lục Phân Minh nghĩa là chữ thứ 1,3,5 trong các câu thì không phải bắt buộc theo luật,còn chữ thứ 2,4,6 thì phải theo qui luật của nó ,

Luật căn bản của TNTT :

( các chử viết thường là không cần phải theo luật , còn các chử In Hoa thì bắt buộc

Bảng 1

b B t T t B B(niêm vần )
t T b B t T B(niêm vần )
t T b B b T T
b B t T t B B(niêm vần )

Thí dụ :

Nhớ
Song thưa gió lộng buốt mây trùng
Chạnh nhớ ai mà mắt lệ rưng
Soi mãi đài gương ngồi dựa bóng
Ba Thu chưa thoả mộng tương phùng


Bảng 2

t T b B t T B niêm
b B t T t B B niêm
b B t T b B T
t T b B t T B niêm

Thí Dụ :

Trong vắt trời non suốt một màu
Trên sông cài lững ánh trăng cao
Làm sao hái được vành trăng ấy
Để tặng cho riêng khách má đào
TTT...

Bảng 3

b B t T b B T
t T b B t T B niêm
t T b B b T T
b B t T t B B niêm

TD :

Đêm tàn lệ gối phai hương sắc
Nến lụn chập chờn gió thoảng qua
Cửa ngọc rèm thưa lay ánh nguyệt
Thầm ngồi soi bóng , bóng soi ta
TTT...

Bảng 4

t T b B b T T
b B t T t B B niêm
b B t T b B T
t T b B t T B niêm

Trời đất vô tình buông lặng lẽ
Núi sông hờ hững nặng nề trôi
Đêm khuya thanh vắng thuyền ai rẽ
Người ở giang đầu có nhớ tôi
TTT...

Chú ý trong bảng 3 va `4 thì hai vần Trắc không đòi hỏi phải niêm nhưng nếu làm được hai vần trắc niêm thì càng hay

Ở trên chỉ là căn bản của phần 1, bây giờ cũng áp dụng
luật căn bản nầy nhưng làm theo vần Trắc nghĩa là lấy vần Trắc làm căn bạn

Bảng 1

t T b B b T T niêm
b B t T b B T niêm
b B t T t B B
t T b B b T T niêm

TD:

Năm tháng buông dần theo đuỗi mãi
Tương tư ảo mộng sao phân giãi
Vào yêu mới rõ được thương đau
Mới hiểu sóng tình cuồn cuộn chảy
TTT...

Bảng 2


b B t T b B T niêm
t T b B b T T niêm
t T b B t T B
b B t T b B T niêm

TD:

Quanh co mấy chử buồn buồn ngũ
Trắc trắc bằng bằng sao khó thủ
Ít nét mà thôi đả hết rồi
Thơ gì viết mãi mà chưa đủ
TTT...

Bảng 3

t T b B t T B
b B t T b B T niêm
b B t T t B B
t T b B b T T niêm

TD :

Gió lộng bên thềm quét lá rơi
Khuya nay bóng nguyệt không thèm ghé
Thương người chốn ấy biệt ngàn khơi
Mắt dõi theo chàng đêm bóng lẽ
TTT...

Bảng 4

b B t T t B B
t T b B b T T niêm
t T b B t T B
b B t T b B T niêm

TD :

Dờn dờn nước biếc gợn mây bay
Lất phất gió lùa lay khóm trúc
Đáy nước lung linh bóng nguyệt cài
Vui say chén rượu bừng hương cúc


* Một số cách ngắt bát cú thành tứ tuyệt
1.) Ngắt bốn câu trên, thành ra bài thơ ba vần, hai câu trên không đối nhau, hai câu dưới đối nhau. Thí dụ:

Con Voi

(So sánh với biểu Thất ngôn bát cú, luật bằng, vần bằng ở trên.)

Xông pha bốn cõi bể chông gai,
Vùng vẫy mười phương bụi cát bay.
Phép nước gọi là tơ chỉ buộc, *
Sức này nào quản búa rìu lay. *

Lê Thánh Tôn (?)

* = đối nhau.

2.) Ngắt bốn câu giữa, thành ra bài thơ 2 vần, cả bốn câu đối nhau. Thí dụ:

Khóm Gừng Tỏi

(So sánh với biểu Ngũ ngôn bát cú, luật bằng, vần bằng ở trên)

Lởm chởm vài hàng tỏi *
Lơ thơ mấy khóm gừng *
Vẻ chi là cảnh mọn #
Mà cũng đến tang thương #

Ôn Như hầu

*, # = đối nhau.

3.) Ngắt bốn câu dưới, thành ra bài thơ 2 vần, hai câu trên đối nhau, hai câu dưới không đối. Thí dụ:

Đề Chùa Vô Vi (So sánh với biểu Ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng ở trên)

Vắt vẻo sườn non Trạo, *
Lơ thơ mấy ngọn chùa. *
Hỏi ai là chủ đó?
Có bán tớ xin mua

Vô Danh

* = đối nhau.

4.) Ngắt 2 câu đầu và 2 câu cuối, thành ra bài thơ 3 vần, cả 4 câu không đối. Thí dụ:

Cái Pháo

(So sánh với biểu Thất ngôn bát cú, luật bằng, vần bằng ở trên)

Xác không, vốn những cậy tay người,
Bao nả công trình, tạch cái thôi!
Kêu lắm, lại càng tan tác lắm,
Thế nào cũng một tiếng mà thôi.

Nguyễn Hữu Chỉnh

5.) Ngắt hai câu 1-2 với hai câu 5-6, thành ra bài thơ 3 vần hai câu cuối đối nhau. Thí dụ:

Con Cóc

(so sánh với biểu Thất ngôn bát cú, luật trắc, vần bằng ở trên)

Bác mẹ sinh ra bốn áo sồi,
Chốn nghiêm thăm thẳm một mình ngồi.
Tép miệng năm ba con kiến gió, *
Nghiến răng chuyển động bốn phương trời. *

Lê Thánh Tôn

( Sử dụng tài liệu của Dương Quảng Hàm )




BÁT CÚ

Trong lối thơ Đường Luật, có năm điều này phải xét:

1.) vần; 2.) đối; 3.) luật; 4.) niêm; 5.) cách bố cục.

Vần thơ:

A) Định nghĩa: Vần (chữ nho là vận) là những tiếng thanh âm hòa hiệp đặt vào hai hoặc nhiều câu văn để hưởng ứng nhau.

B) Cách gieo vần:

1.) Thơ Đường: luật thường dùng vần bằng, gián-hoặc mới dùng vần trắc.

2.) Suốt bài thơ Đường Luật chỉ hiệp theo một vần, tức là theo lối độc vận.

3.) Trong một bài bát cú có năm vần gieo ở cuối câu đầu và cuối các câu chẵn.

C.) Lạc vận và cưỡng áp: Gieo vần sai hẳn, không hiệp nhau gọi là lạc vận (lạc: rụng). Nếu vần gieo gượng không được hiệp lắm gọi là cưỡng áp (đặt gượng), đều không được cả.

Phép đối trong thể thơ:

A.) Định nghĩa: Đối là đặt hai câu đi sóng đôi cho ý và chữ trong hai câu ấy cân xứng với nhau.

1.) Đối ý là tìm hai ý tưởng cân nhau mà đặt thành hai câu sóng nhau.

2.) Đối chữ thì vừa phải đối thanh tức là bằng đối với trắc, trắc đối với bằng; vừa phải đối loại của chữ nghĩa là phải đặt hai chữ cùng một tự loại để đối với nhau (như cùng là hai chữ danh từ, hoặc động từ, v.v.)

3.) Những câu phải đối trong một bài thơ bát cú: Trừ hai câu đầu và hai câu cuối, còn bốn câu giữa thì câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6.

Luật Thơ:

A) Định nghĩa: Luật thơ là cách sắp đặt tiếng bằng tiếng trắc trong các câu của một bài thơ.

B) Tiếng bằng và tiếng trắc: Muốn hiểu luật thơ, phải biết phân biệt tiếng bằng tiếng trắc. Bằng (chữ nho là bình) là những tiếng lúc phát ra bằng phẳng đều đều. Trắc (nghĩa đen là nghiêng, lệch) là những tiếng khi phát ra hoặc tự thấp lên cao hoặc tự cao xuống thấp.

Trong tiếng ta có 8 thanh thì có hai thanh bằng và 6 thanh trắc như sau:

Bằng: Phù bình thanh = không có dấu

Trầm bình thanh = Huyền (`)
Trắc: Phù thượng thanh = Ngã (~)
Trầm thượng thanh = Hỏi (?)
Phù khứ thanh = Sắc (')
Trầm khứ thanh = Nặng (.)
Phù nhập thanh = Sắc (') *
Trầm nhập thanh = Nặng (.)*

* Riêng cho các tiếng đằng sau có phụ âm c, ch, p, t.

C.) Luật bằng và luật trắc: Thơ có thể làm theo hai luật:

1.) Luật bằng là luật thơ bắt đầu bằng hai tiếng bằng;

2.) Luật trắc là luật thơ bắt đầu bằng hai tiếng trắc.

D) Các luật thơ: Ngay liệt kê các luật thơ thông dụng như sau (b = tiếng bằng; t = tiếng trắc; v = tiếng vần; những chữ in lối chữ nghiêng là phải theo đúng luật; những chữ in thường thì theo đúng luật hoặc không theo đúng luật cũng được, theo cái lệ "bất luận" sẽ nói về sau):

I. LUẬT BẰNG II. LUẬT TRẮC

A. Vần bằng A. Vần bằng

1@Ngũ ngôn bát cú 1@Ngũ ngôn bát cú

I : b b t t b (v) t t t b b (v)
II. : t t t b b (v) b b t t b (v)
III : t t b b t b b b t t
IV : b b t t b (v) t t t b b (v)
V : b b b t t t t b b t
VI : t t t b b (v) b b t t b (v)
VII : t t b b t b b b t t
VIII : b b t t b (v) t t t b b (v)

2@ Thất ngôn bát cú 2@ Thất ngôn bát cú

I : b b t t t b b (v) t t b b t t b (v)
II : t t b b t t b (v) b b t t t b b (v)
III : t t b b b t t b b t t b b t
IV : b b t t t b b (v) t t b b t t b (v)
V : b b t t b b t t t b b b t t
VI : t t b b t t b (v) b b t t t b b (v)
VII : t t b b b t t (v) b b t t b b t
VIII : b b t t t b b (v) t t b b t t b (v)

B. Vần trắc B. Vần trắc

Ngũ ngôn bát cú Thất ngôn bát cú

I : b b b t t (v) t t b b b t t (v)
II : t t b b t (v) b b t t b b t (v)
III : t t t b b b b t t t b b
IV : b b b t t (v) t t b b b t t (v)
V : b b t t b t t b b t t b
VI : t t b b t (v) b b t t b b t (v)
VII : t t t b b b b t t t b b
VIII : b b b t t (v) t t b b b t t (v)

E.) Bất luận và khổ độc: Vì sự theo đúng luật bằng trắc như trên đã định là một việc rất khó, nên có lệ bất luận (không kể), nghĩa là trong câu thơ có một vài chữ không cần phải đúng luật.

1.) Trong bài thơ ngũ ngôn thì chữ thứ nhất và thứ ba không cần đúng luật: tức nhất, tam bất luận.

2.) Trong bài thơ thất ngôn thì chữ thứ nhất, thứ ba và thứ năm không cần đúng luật: tức là nhất, tam, ngũ bất luận.

Tuy theo lệ bất luận có thể thay đổi luật mấy chữ trong câu thơ, nhưng đang trắc mà đổi ra bằng bao giờ cũng được, chứ đang bằng mà đổi ra trắc thì trong vài trường hợp sự thay đổi ấy làm cho câu thơ thành ra khổ độc (khó đọc) không được. Những trường hợp ấy là:

1.) Trong bài thơ ngũ ngôn, chữ thứ nhất các câu chẵn và chữ thứ ba của các câu đang bằng mà đổi ra trắc là khổ độc.

2.) Trong bài thơ thất ngôn, chữ thứ ba các câu chẵn và chữ thứ năm các câu lẻ đang bằng mà đổi ra trắc là khổ độc.

F.) Thất luật: Một câu thơ đặt sai luật nghĩa là một chữ đang bằng mà đổi ra trắc hoặc trái lại, thế thì gọi là thất luật (sao mất luật) không được.

Niêm:

A) Định nghĩa: Niêm (nghĩa đen là dính) là sự liên lạc về âm luật của hai câu thơ trong bài thơ Đường Luật. Hai câu thơ niêm với nhau khi nào chữ thứ nhì của hai câu cùng theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc, thành ra bằng niêm với bằng trắc niêm với trắc.

B) Những câu niêm với nhau trong một bài thơ bát cú: Trong một bài thơ bát cú (xem lại biểu các luật thơ trên) những câu sau này niêm với nhau: 1 với 8. - 2 với 3. - 4 với 5. - 6 với 7. - 8 với 1.

C) Thất niêm: Khi các câu trong một bài thơ, vì sự đặt sai, không niêm với nhau theo lệ đã định; thì gọi là thất niêm (mất sự dính liền) không được.

Cách bố cục: Một bài thơ bát cú có bốn phần.

1.) Đề gồm có phá đề (câu 1) là mở bài và thừa đề (câu 2) là nối câu phá mà vào bài.

2.) Thực hoặc trạng (hai câu 3 và 4) là giải thích đầu bài cho rõ ràng.

3.) Luận hai (câu 5 và 6) là bàn bạc cho rộng nghĩa đầu bài.

4.) Kết (hai câu 7 và 8) là tóm ý nghĩa cả bài mà thắt lại.

* Những dạng thơ Đường Luật ( Theo Bồ Tùng Linh )

1 - Họa Vận

Một người làm một bài xướng lên, một người nữa làm bài khác họa lại mà các vần trong bài họa phải theo y như các vần trong bài xướng, còn ý nghĩa hoặc phụ theo cho rộng,hoặc trái hẳn lại ( phản đề ) :

Hỏi Ả Bán Chiếu
Xướng :
Ả ở đâu nay bán chiếu gon ?
Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn ?
Xuân thu nay độ bao nhiêu tuổi ?
Đã có chồng chưa được mấy con ?
Nguyễn Trãi
Họa :

Tôi ở Tây hồ bán chiếu gon .
Nỗi chi ông hỏi hết hay còn ?
Xuân thu tuổi mới trăng còn lẻ ,
Chồng còn chưa có,có chi con !
Nguyễn thị Lộ

2-Thủ nhất thanh ( nhất đồng )
Từ đứng đầu 8 câu đều giống nhau.

Tám Mừng

Mừng đón xuân về, muôn sắc hoa,
Mừng xuân,xuân mới, mới thêm ra.
Mừng nghe nhựa sống, như còn trẻ,
Mừng thấy đời tươi, chửa muốn già.
Mừng khỏe đôi chân, đi đứng vững,
Mừng tinh cặp mắt ngắm nhìn xa.
Mừng nhau tuổi Thọ tăng tăng mãi,
Mừng được trường xuân hưởng thái hòa.
1986 Lạc Nam

3-Song điệp
Tất cả 8 câu đều có 2 điệp từ :

Chuyện Đời

Vất vất vơ vơ, cũng nực cười,
Căm căm cúi cúi có hơn ai .
Nay còn chị chị anh anh đó ,
Mai đã ông ông mụ mụ rồi.
Có có không không, lo hết kiếp
Khôn khôn dại dại, chết xong đời.
Chi bằng láo láo lơ lơ vậy,
Ngủ ngủ ăn ăn nói chuyện chơi.
Nguyễn Công Trứ

4-Song điệp độc vận
Tất cả 8 câu đều có 1 từ và chỉ có 1 vần.

Xuân Và Thơ

Xuân tự ngàn xưa,bạn với Thơ
Tình Xuân là cả vạn lời Thơ
Đẹp duyên hoa bút,Xuân ngời sắc
Rộn khúc Xuân thiều,nhạc ánh Thơ.
Xuân vắng,oanh hờn,dầu dáng liễu
Xuân về hương tỏa ngát lời Thơ
Xuân nương, thi sĩ, đôi người ngọc,
Dệt mộng ngày Xuân, lộng ý Thơ.
Lạc Nam
5-Dĩ đề vi thuû
Lấy 8 từ đầu để mở đầu cho 8 câu thơ :

Xướng (Nam): "Trăm điều hãy cứ trông vào một ta"

Trăm nỗi bâng khuâng góp chuyện lòng
Điều chi mà ngại nghĩa non sông
Hãy buông lá thắm xuôi dòng vắng
Cứ để hoa đào cợt gió đông
Trông nẽo lầu thơ chờ hạnh ngộ
Vào trong giấc mộng đợì tao phùng
Một phen tâm sự hòa theo nhạc
Ta sẽ cùng nhau viết thỉ chung

Họa (Nữ) : "Đi đâu chẳng biết con người sở khanh"

Đi mãi đường xa đã biết lòng
Đâu còn mơ tưởng núi cùng sông
Chẳng đem thơ ấy treo lầu vắng
Biết chọn hoa nào bán chợ đông
Con mắt chưa từng xanh thế tục
Người quen đành tạm trắng tương-phùng
Sở Tần, xin nhắn thà xa cách
Khanh tướng đâu mà nghĩ đỉnh chung !

6-Dĩ đề vi vận
Lấy đầu đề làm vần

Không Chồng Trông Bông Lông

Xướng :
Bực gì bằng gái chực phòng không
Tơ tưởng vì chưng một tấm chồng,
Trên gác rồng mây ngao ngán nhẽ,
Bên trời cá nước ngẩn ngơ trông.
Mua vui lắm lúc cười cười gượng,
Giả dại nhiều khi nói nói bông.
Mới biết có chồng như có cánh,
Giang sơn gánh vác nhẹ bằng lông.
Nguyễn Khuyến

Họa Vận :
Phật rằng sắc sắc không không ,
Sắc sắc không không khó chất chồng.
Ân oán,nhiều người còn có ngóng,
Trải oan,lắm kẻ vẫn chờ trông.
Thế gian,nhân quả nhanh như bóng,
Cõi Phật,nhân duyên nhẹ tựa bông.
Xuân đến hoa xuân tươi đẹp mãi,
Luân hồi ra khỏi,hết bông lông.
Cổ Lai Hy (nhóm Silicon)

7-Toán thi
Cả bài câu nào cũng có từ chỉ con số.

Thân Phận Gái

Một sớm phân vân bước xuống thuyền,
Tưng bừng hai họ,nỗi sầu riêng.
Lặng nhìn ba má,đôi giòng lệ,
Xác pháo bốn bề,nát phận duyên.
Năm tháng rồi đây tùy số kiếp,
Hoài lang sáu nhịp,vọng chim uyên.
Bảy ba chìm nổi,tình nhi nữ,
Đôi tám sang ngang,đạo chính chuyên.
Tùng Linh

8-Liên hoàn
Thể thơ có nhiều đoạn, câu cuối của đoạn trên được chuyển thành câu đầu của đoạn dưới

Thi Lấy Được

Anh Phán nhà ta biết cóc gì
Kỳ thi Tham biện cũng ra thi,
Nhất thì anh đỗ,nhì anh trượt,
Chẳng đậu khoa này, khoa khác đi.

Chẳng đậu khoa này, khoa khác đi.
Nam nhi chi chí, há lo gì,
Một, hai, ba, bốn, năm năm trượt
Nhẵn mặt quan trường, chẳng thẹn chi.

Nhẵn mặt quan trường, chẳng thẹn chi.
Trượt thi, thi trượt, vẫn gan lì.
. . . .
Tú Mỡ
Lính Tập Vinh Qui

Chú đội qua Tây thắng trận về,
Cả nhà đón rước thật mừng ghê !
Ông già, bà lão gồm hai cụ,
Vợ giảnh, con ngoan đủ mọi bề, (1)
Nảy ngực mề đay tiền bạc chói,
Rạng mình khố đỏ áo vàng xuê.
Giang sơn mày mặt càng tươi tốt,
Bộ cất tay lên, ngó cũng nghề. (2)

Bộ cất tay lên ngó cũng nghề,
Miệng cười tróm trém, húi râu dê.(3)
Xông pha trăm trận từng hăm hở
Gánh vác hai vai ghẹo nặng nề ! (4)
Mở mặt Tiên Rồng dòng Đại Việt,
Nổi danh hùng hổ cõi Âu tê (5)
Trong tình cảnh nọ dầu không vẻ,
Văng vẳng dường nghe tiếng ắc-đê ! (6)
N.V.H

Chú thích
1-Vợ đẹp ( tiếng Nghệ)
2-Có vẻ tay nghề
3-Bộ râu xén như râu dê
4-Dù công việc có nặng đến đâu cũng không sợ (tiếng Nghệ)
5-Âu Tây.chữ tây,âm Hán có khi đọc là tê
6-Phiên âm chữ Pháp : un,deux.Tiếng hô đi đều của lính tập.

9-Liên hoàn thuận nghịch vận
Thể thơ như trên, nhưng bài thứ 2 viết ngược vần lại với bài thứ nhất.

Xem Núi Non Bộ

Non nhân, nước trí, điểu muông hiền,
Núi giả mà in dáng tự nhiên.
Một vũng xinh xinh, vươn một ngọn,
Hai cầu nho nhỏ, vắt hai triền.
Thuyền ngư lướt suối dong miền tục,
Cánh hạc trườn mây bổng cõi tiên.
Đối cảnh tâm tư dường nhẹ nhõm,
Lâng lâng chẳng bợn chút ưu phiền.

Lâng lâng chẳng bợn chút ưu phiền.
Bàn đá say cờ đôi lão tiên,
Lã vọng buông câu vờn sóng nước,
Phật đài mở lối lượn ven triền.
Sỏn thanh thủy tú,hồn u nhã,
Sắc lộng hương nùng ,khí hạo nhiên.
Phong cảnh tạo hình như giới thiệu
Chủ nhân đây cũng bậc nhân hiền.
Lạc Nam

10-Ô thước kiều
Thể thơ liên hoàn như trên, nhưng lấy 2 từ cuối, hoặc nhắc lại 2, 3 từ nào đó ở câu cuối của bài trên để mở đầu cho câu 1 của bài dưới.

Chống Tôn Thọ Tường

Lung lay lòng sắt đã mang nhơ,
Chẳng xét phận mình khéo nói vơ.
Người trí mang lo danh chẳng chói,
Đứa ngu luống sợ tuổi không chờ.
Bài hòa đã sẵn in tay thợ,
Cuộc đánh hơn thua giống nước cờ.
Chưa trả thù nhà,đền nợ nước,
Dám đâu mắt lấp với tai ngơ.

Tai ngơ sao đặng lúc tan tành,
Luống biết trách người,chẳng trách mình.
Đến thế còn khoe đàng đạo nghĩa,
Như vầy cũng gọi kẻ trâm anh.
Biển khơi vụng tính dung thuyền nhỏ,
Chuông nặng to gan buộc chỉ mành.
Thân có,ắt danh tua phải có,
Khuyên người ái trọng cái thân danh.

Thân danh chẳng kể, thật thằng hoang,
Đốt sáp nên tro lụy chẳng màng.
Hai cửa trâm anh xô sấp ngửa,
Một nhà danh giá xóa tan hoang.
Con buôn khấp khởi chưa từng ngọc,
Người khó xăng xăng mới gặp vàng.
Thương kẻ đòng văn nên phải nhắc.
Dễ đâu ta dám tiếng khoe khoang.
Phan Văn Trị ( 1830-1910)

11-Tập danh
a- Trong mỗi câu có danh từ gắn với đề tài

Mừng Ông Lão Hàng Thịt Ăn Thượng Thọ

Nay tiết mừng ông mới Bảy mươi,
Cổ hy(1) chưa dễ mấy lăm người.
Răng long nhưng hãy còn tinh mắt
Đầu bạc nhưng mà chửa tắc tai.
Bè bạn bày vai kèo (2) chén Lý (3)
Cháu con dưới gối múa sân Lai. (4)
Xưa nay vẫn giữ lòng chân thực
Chữ đức giả xương máu để đời.
Nguyễn Khuyến

Chú thích :
1-Do câu " nhân sinh thất thập cổ lai hy " ,ngưòi ta sinh ra sống được 70 tuổi,xưa nay rất hiếm có.
2-Rót rượu mời người khác uống. 3-Chén rượu của Lý Bạch ,nhà thơ uống rượu nổi tiếng. 4-Lão Lai,người nước Sở đời Xuân Thu, tuổi đã ngoài 70 còn cha mẹ, giả cách khóc như trẻ con để làm cho cha mẹ vui.

b-Mỗi câu thơ có 1 từ chỉ bộ phận trong thân thể con người.

Học Trò

Dài lưng tốn vải lại ăn no,
Nghĩ ngán cho thân phận học trò.
Thù nước, thù vua, ngay mặt chịu,
Công sưu, công ích, cắm đầu lo !
Vẫn giương mắt ếch mà ra quáng,
Còn ngậm lông mèo chả sợ ho !
Nói đến chuyện đời tai điếc đặc,
Rung đùi, chỉ nghĩ " tám đùi " to !
Nhì Mỹ

Chú thích : Ngậm lông mèo : ngậm bút chữ nho. Tám đùi :văn xưa gọi là " bát cổ "dịch là tám vế,vế đồng nghĩa với đùi.

12-Tính danh
Câu nào cũng có từ chỉ nhân danh hay địa danh. Giống như Điển Thi, câu nào cũng dẫn 1 điển ở bên Tàu.Xưa kia các cụ đồ nho chuộng lắm vì như thế các cụ mới chịu cho là có học, rộng kiến thức.

Lỗi Thề

Vùi oan bạc mệnh sóng Tiền Đường (1)
Ngọn đuốc Chiêm Thành(2) rở nhớ thương.
Chắp cánh đẹp gì câu Thất Tịch (3)
Ôm cầm say mãi gái Tầm Dương(4)
Lỗi thề Chung Tử (5) sầu tri kỷ
Hoen mái Tây hiên (6) lệ đoạn trường
Hồ Hán (7) ngậm ngùi mây cách biệt
Ngân Hà (8) mưa gió nẻo cầu sương.
Toại Khang

Chú thích :
1: Kiều trầm mình ở sông Tiền Đường. 2- Công chúa Huyền Trân phải sang lấy vua Chiêm Thành.
3- Đường Minh Hoàng -Dương Quý Phi đêm 7 tháng 7 âm lịch thề cùng nhau "sống làm vợ chồng chết là chim liền cánh cây liền cành". 4-Bạch Cư Dị,văn hào đời Đường, đêm đậu thuyền ở bến sông Tầm Dương làm bài Tỳ Bà Hành cho ca nữ hát.
5-Chung Tử Kỳ -Bá Nha là 2 bạn tri âm. Bá Nha gảy đàn,T ử Kỳ biết Bá Nha nghĩ gì. Tử Kỳ chết, Bá Nha đập đàn đi, không gảy nữa. 6-Trương Quân Thụy và Thôi Oanh Oanh tình tự dưới mái Tây hiên. 7-Chiêu Quân nhà Hán sang cống Hồ.
8-Ngưu Lang và Chức nữ đứng 2 bên sông Ngân Hà nhớ nhau khóc thành mưa ngâu trong tháng 7 Âm lịch.

13-Sắc thái
Câu nào cũng có từ chỉ màu sắc.

Chiều Nổi Mầu Thu

Trời thu bóng ác rực mầu vang,
Trườn trượt vào lưng dặng núi vàng.
Cánh nhạn chiều tà sương lót trắng
Chòm mây mưa nhạt khói mờ lam.
Lầu thu thoát nắng nâng rèm tía,
Vườn vắng còn đây nở đóa vàng.
Nếu chẳng vương tìm hoa súng tím,
Thì đâu được ngắm nguyệt da cam.
Toại Khang

14-Thủ vĩ ngâm
Thể thơ trong đó câu đầu và câu cuối giống nhau

Khoe Lười

Anh em chớ bảo ta lười,
Làm việc cho hay phải thức thời.
Xuân hãy còn chơi cho phỉ chí,
Hạ mà cất nhắc tất nhoài hơi.
Thu sang cảm nguyệt còn ngâm vịnh,
Đông lại hầm chăn tạm nghỉ ngơi.
Chờ đến xuân sang ta sẽ liệu,
Anh em chớ bảo ta lười.
Tú Mỡ

Đèn Kéo Quân

Lúng túng trong vòng mấy đứa đen,
Nhờ khi đỏ lửa mới hay hèn.
Nghênh ngang võng giá phô đồ giấy,
Đủng đỉnh dù che nép bóng đèn.
Thằng trước thằng sau liền gót chạy,
Anh trên anh dưới vểnh râu lên.
Này ai say tỉnh nhìn xem thử,
Lúng túng trong vòng mấy đứa đen.
Khuyết Danh

15-Triệt hạ
Từ cuối của mỗi câu thơ để bỏ lửng làm cho câu thơ chưa trọn nghĩa, khiến người đọc phải nghĩ ra.

Gái Hồng Nhan

Thấy gái hồng nha bỗng chốc mà . . .
Hõi thăm cô ấy chửa hay đà . . .
Hình dung yểu điệu in như thể . . .
Diện mạo phương phi ngó tưởng là . . .
Ăn mặc ra tuồng người ở chốn . . .
Nói năng phải lẽ giống con nhà . . .
Ước gì ta được mà ta để . . .
Ta để đem về để nữa ta . . .
Nguyễn Quý Tân

16-Yết hậu
Các câu trên đủ từ cả, riêng câu cuối cùng chỉ có 1 từ.

Rượu Say Nhè

Sống ở nhân gian, đánh chén cay,
Trăm năm ngày tháng, giữ be đầy.
Diêm vương phán hỏi "Ai đó " ?
- "Say ! "

Sống ở nhân gian đánh chén khè ,
Trăm năm ngày tháng,giữ đầy be.
Diêm vương phán hỏi " Ai đó " ?
- "Nhè ! "
Phạm Thái (biệt hiệu Chiêu Lỳ)

17-Áp cú
Từ cuối của câu trước trở thành từ đầu của câu sau.

Sang Canh

Năm nảo năm nao cũng ước lành
Lành, còn mong hết ? đón sang canh.
Canh trời thắc thỏm phương xin lộc,
Lộc nước lăm le khách vít cành.
Cành lá đêm qua dù thiếu nụ,
Nụ đào xuân hé đẹp hơn tranh,
Tranh đời mới lại màu hoa gấm,
Gấm vóc sơn hà lộng sắc xanh.
Toại Khang

Chừa Rượu

Những lúc say sưa, cũng muốn chừa,
Muốn chừa,nhưng tỉnh lại hay ưa,
Hay ưa nên nỗi không chừa được,
Chừa được, nhưng mà cũng chẳng chừa.
Nguyễn Khuyến

18-Chơi chữ
Thể thơ chơi chữ rất phong phú và hứng thú. Chỉ xin liệt kê ra đây vài bài mẫu :

a-Chơi theo vần A B C . . .

Muốn Quy Thuyền

A Di Đà Phật muốn quy thuyền,
B bết lòng tham hãy cứ nguyên.
C xích cho gần nơi cửa tịnh,
Đ đầu nguyện dứt mối trần duyên.
Thảo Am

Dở Dang

E không thoát khỏi xa niềm tục,
F gượng rồi ra cũng hão huyền.
T tái trần duyên tu chẳng trọn,
Y thời cũng trả,bát không quyên.
Bùi Tiến (nhóm Silicon)

b-Chơi theo các dấu : Huyền - Sắc - Nặng - Hỏi

Huyền diệu trông lên cửa đạo thuyền,
Sắc không khôn rõ thấu căn nguyên
Nặng nề nghiệp chướng e chưa hết,
Hỏi mấy ai đà có thiện duyên.
Thảo Am

c-Các từ trong bài thơ đều dùng một phụ âm hay nguyên âm

Chuyện Cô Cháu

Cô chẳng cho con cả chén chè
Cô cho chút chút,chán cô chưa.
Chè còn,cô cất cho chua cả,
Con cũng chê,mà chó cũng chê.
Bùi Tiến (Quán Thơ Silicon)
Chớ chớ, cháu cô chỉ chãnh chòe,
Cháo chè chi chiết chán chường chưa !
Chén chè cô cúng cho chùa cả,
Cầu cháu cùng cô chồng chẳng chê !
Mai Ninh (nhóm Silicon)

d- Ý của các từ , cụm từ, câu thơ đều phải hiểu theo nghĩa bóng, điển . . . Thể thơ chơi chữ này thú vị và bất ngờ nhất vì có khi người đọc nghĩ ra những ý mà chính tác giả cũng không nghĩ ra.

Tắm Trong Tù

Vùng vẫy mình trong bể nước đầy
Hết kỳ lại cọ, chẳng rời tay
Ông Tây cứ bảo mình yêu nước,
Ừ, chẳng yêu sao lại thế này ?
Nhượng Tống

Chú thích : Lệ nhà tù, một tuần mới cho tắm một lần, nên mỗi khi tắm, phạm nhân vùng vẫy kỳ cọ trong bể nước cho bằng đã.

Ghẹo Sư nữ

Ôm tiu cắp mõ ngủ kho kho,
Gió thổi mùng thiền mát mẻ cô,
Cánh cửa từ bi gài lỏng khóa,
Nén hương tế độ đốt đầy lò.
Cá khe lắng kệ đầu ngơ ngác ,
Chim suối nghe kinh cổ gật gù.
Nhắn với chúng sinh lòng muốn độ,
Đêm đêm thường niệm chữ nam vô !
Nguyễn Khuyến ? Mai Thế Quý ?

19-Kỵ đề
Thể thơ trong đó tất cả 8 câu đều không có từ nào chỉ đề tài mà vẫn thể hiện đầy đủ yêu cầu của đề tài. Chưa sưu tầm ra bài mẫu

20-Bát điệp
Thể thơ trong đó tất cả 8 câu đều có lồng vào 1 hoặc 2 từ giống nhau.

Gái Muộn Chồng

Ai giám thương đâu gái có chồng
Thương vì một nỗi chực phòng không.
Thương con quốc đực kêu mùa hạ
Thương cái bèo non giạt biển đông
Thương vợ chồng Ngâu duyên chểnh mảng,
Thương cha mẹ nhện số long đong.
Cái thương quân tử thương là thế,
Có giám thương đâu gái muộn chồng.
Khuyết Danh

Còn Chơi

Ai đã hay đâu tớ chán đời,
Đời chưa chán tớ, tớ còn chơi.
Chơi cho thật chán, cho đời chán,
Đời chán nhau thời tớ sẽ thôi.
Nói thế, can gì tớ đã thôi ?
Đời đương có tớ, tớ còn chơi.
Người ta chơi đã già đời cả
Như tớ năm nay mới nửa đời.
Tản Đà

Chú thích :Trong câu 5 Tản Đà không có dùng từ đời. Nếu ta thay từ " can gì " bằng "đời nào " câu 5 thành : "Nói thế, đời nào tớ đã thôi" thì bài thơ thuộc thể Bát điệp.

21-Liên ngâm
Thể thơ trong đó 2 hoặc nhiều người làm chung một bài thơ lần lượt nhau mỗi người 1 hoặc 2 câu.

Cảnh Tây Hồ

Bài này do bà Liễu Hạnh cùng ông Phùng Khắc Khoan ,1 ông họ Lý,1 ông họ Ngô chơi thuyền ở Hồ Tây liên ngâm:

(Liễu)
Hồ Tây riêng chiếm một bầu trời
(Lý)
Bát ngát tứ mùa rộng mắt coi.
Cỗi ngọc xanh xanh làng phía cạnh,
(Phùng)
Trâu vàng biêng biếc nước vàng khơi.
Che mưa nhà lợp vài gian cỏ
(Ngô)
Chèo gió ai bơi một chiếc chài
Giậu thủng chó đua đàn sủa tiếng
. . . . . . . . . . . .

(Phùng)
Đông hết thành xuân chửa thấy mai.
Thú cảnh yên hà sang dễ đọ
(Ngô)
Sóng lòng trần tục dạ đầy vơi.
Xe săn Vị Thủy tha hồ hỏi
(Lý)
Thuyền tới Đào nguyên mặc sức bơi.
Chuông sớm dục thanh lòng Phật đó
(Liễu)
Trăng tròn soi bóng một tiên thôi.

( Nguyên văn chữ Hán Truyện Liễu Chúa-Phan Kế Bính dịch nôm trong Việt Hán văn khảo )

22-Hạn Vận
Người ra đề cho vần nào ta phải dùng vần ấy. Thể thơ này khác với thể Họa Vận vì không có bài xướng để dựa theo mà họa, hơn thế nữa, ta phải :

* Tả ý thơ theo đầu đề
* Dùng 5 vần hạn định (trong 8 câu)
Thí dụ : Cuộc thi thơ do học giả Phan Kế Bính tổ chức

a/ đầu đề :

Trống treo ai dám đánh thùng
Bậu không, ai dám dở mùng chun vô ?

b/ 5 vần hạn định : xô, cô, vô, ô, rô.
Bài thơ sát với đầu đề, hạ đúng 5 vần hạn định, được giải nhất mà tác giả lại là một nhà sư chân tu ! :

Nào phải là ai dám giục xô,
Thuận tình truớc hết tự nơi cô.
Có cho mới dám trao dùi đánh,
Không hẹn nào ai đẩy cửa vô ?
Mảng sướng kể gì thân lễ nghĩa,
Ham vui quên hết chuyện dâm ô.
Thói hư thuần, thước xưa còn lạc,
Đừng học làm chi gióng nhảy rô !

23-Phú Đắc
Giải thích và phát triển ý của một câu ca dao hay một câu thơ bằng một bài thơ, nhưng nội dung phải phù hợp với sự việc đó.

Già Còn Muốn Lấy Chồng

Phú Đắc :
Bà già đã bảy mươi tư,
Ngồi trong cửa sổ gửi thư kén chồng

Đã trót sinh ra kiếp má đào,
Bảy mươi tư tuổi có là bao ?
Xuân xanh xấp xỉ hàng răng rụng
Ngày vắng ân cần mảnh giấy trao.
Chữ nhất nhi chung đành đã vậy (1)
Câu tam bất hiếu nữa làm sao (2)
May mà lấy được ông chồng trẻ,
Họa có sinh ra được chút nào ?
Nguyễn Khuyến

Chú thích :
1- Nhất nhi chung : chỉ có một chồng cho đến trọn đời.
2- Tam bất hiếu :Theo thuyết Khổng Mạnh có câu " Bãt hiếu hữu tam, vô hậu vi đại ", nghĩa là tội bất hiếu có 3 điều, không có con trai nối dõi là tội to nhất.

Thách Vần
Phú Đắc :
Tối um um, trống điểm thùm,
Dáng lum khum, có lẽ hùm !
Quán tùm hum !

Giời hôm như mực cỏ xanh um,
Kẽm trống đâu đây bước đánh thùm,
Ven núi chẳng nề cao với thấp,
Qua cầu đếch biết thẳng hay khum.
Đường mây, ngọn gió, đôi đàn vạc,
Móng đá chân sim, một dấu hùm.
Sực thức đêm khuya thương kẻ lạnh,
Màn, chăn, đệm ấm hủm hùm hum.
Lê Lượng Thể (biệt hiệu Thảo Trang)

24-Láy Thơ
Thể thơ trong đó hoặc ở đầu câu,ở giữa câu hay ở cuối câu đều có từ láy. Láy có 3 loại :

a- Láy từ : Từ đùng trước được láy lại toàn bộ ở từ sau : ngời ngời, xinh xinh, ngà ngà, ngoan ngoãn . . .

b- Láy âm :Bộ phận phụ âm đàu của từ trước được láy lại ởbộ phận phụ âm của từ sau : khó khăn, đỡ đần . . .

c- Láy vần : Bộ phận vần của từ trước được láy lại ở bộ phận vần của từ sau : bồn chồn-lẩm cẩm-cheo leo . . .

d- Láy có 3 thể :

1/ Láy đôi : canh cánh, tà tà, lăm le . . .

Quan Khánh

Đứng tréo trông theo cảnh hắt heo,
Đường đi thiên thẹo, quán cheo leo.
Lợp lều quán cỏ tranh xơ xác,
Xỏ kẽ kèo tre đót khẳng khiu.
Ba chạc cạy xanh hình uốn éo,
Một dòng nước biết cảnh leo teo.
Thú vui quên cả niềm lo lắng,
Kìa cái diều kia nó lộn lèo !
Hồ Xuân Hương

2/ Láy ba (Vĩ Tam Thanh): Sạch sành sanh-dửng dừng dưng - sát sàn sạt . . .

Ngẫu Hứng

Tiếng gà bên gối tẻ tè te,
Bóng ác trông lên hé hẻ hè.
Cây một chồi cao von vót vót,
Hoa năm sắc nở lóe lòe loe.
Chim tình bè lứa kia kìa kịa,
Ong, nhĩa vua tôi nhé nhẻ nhè.
Danh lợi mặc người ti tí tị,
Ngủ trưa chửa dậy khỏe khòe khoe.
Vô Danh

3/ Láy tư : Trùng trùng điệp điệp, lúng ta lúng túng, hớt hơ hớt hải, áo áo quần quần . . .

Hạ Long Tức Cảnh

Trùng trùng điệp điệp núi chon von,
Ảo ảo mơ mơ thế trận hồn ,
Lớp lớp hàng hàng hòn Bái Tử,
Non non nước nước một lòng son.
Tùng Linh (Quán Thơ Silicon)

25-Lái Thơ
Thể thơ có những cụm từ đôi được lái thành cụm từ đôi khác (hoặc cụm từ ba, nhưng rất ít), như trong câu : "Con cá đối nằm trong cối đá" hoặc trong cảnh Trạng Quỳnh ngồi bờ ao chơi đá bèo làm cho bà Quận Chúa phải đỏ mặt.

Muốn Quy Thuyền

Cầu đạo cần chi phải cạo đầu ,
Dầu lai dưa muối cũng dài lâu.
Na bường bát tới nương bà ***,
Dầu sãi không tu cũng giải sầu.
Thảo Am

Nhắn Bạn

Nhắc bạn những thương tình nhạn bắc,
Tr
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 

luật làm thơ tổng hợp

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn đàn của những bạn trẻ đang yêu :: Trang thơ :: Thơ tình yêu đôi lứa-