Diễn đàn của những bạn trẻ đang yêu


 
Trang ChínhCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 aj thjk tho nguyen~ traj~ thj`xem

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
conserver
Thành viên mới
Thành viên mới
avatar

Tâm trạng : fun
Nam
Tổng số bài gửi : 3
Age : 23
Đến từ : vietnam
Châm ngôn sống : sống sao có ích
Số lần được cám ơn : 0
Điểm : 26725
Ngày tham gia : 27/04/2010

Bài gửiTiêu đề: aj thjk tho nguyen~ traj~ thj`xem   Tue Apr 27, 2010 9:46 am

Crying or Very sad TRẠI ĐẦU XUÂN ĐỘ - Nguyễn Trãi

Độ đầu xuân thảo lục như yên,

Xuân vũ thiêm lai thuỷ phách thiên.

Dã kính hoang lương hành khách thiểu,

Cô châu trấn nhật các sa miên.

Bình giảng bài thơ “Trại đầu xuân độ” (Bến đò xuân đầu trại) của Nguyễn Trãi.


Bình giảng bài thơ Bạch Đằng Hải Khẩu của Nguyễn Trãi

Bình giảng bài “Bạch Đằng hải khẩu” (Cửa biển Bạch Đằng) của Nguyễn Trãi.

Biển rung gió bấc thế bừng bừng,

Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng.

Kình ngạc băm vằm non mấy khúc,

Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng.

Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,

Hào kiệt công danh đất ấy từng.

Việc nước quay đầu ôi đã vắng,

Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.

Nguyễn Đình Hồ dịch.



Phân tích bài thơ Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi

Côn sơn ca ( Nguyễn Trãi)

Côn Sơn suối chảy rì rầm,

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.

Côn Sơn có đá rêu phơi,

Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm.

Trong ghềnh thông mọc như nêm,

Tìm nơi bóng mát ta lên ta năm.

Trong rừng có bóng trúc râm,

Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.

Về đi sao chẳng sớm toan,

Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi.

Muôn chung chín vạc làm gì,

Cơm rau nước lã nên tuỳ phận thôi.

Đồng, Nguyên để tiếng trên đời,

Hồ tiêu ăm ắp, vàng mười chứa chan.

Lại kia trên núi Thú San,

Di, Tề nhịn đói chẳng màng thóc Chu.

Hai đàng khó sánh hiền ngu,

Đêu làm cho thoả được như ý mình.

Trăm năm trong cuộc nhân sinh,

Người như cây cỏ thân hình nát tan.

Hết ưu lạc đến bi hoan,

Tôt tươi khô héo tuần hoàn đổi thay,

Núi gò đài các đó đây,

Chết rồi ai biết đâu ngày nhục vinh.

Sào, Do bằng có tái sinh,

Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn.

(Bản dịch trong sách “Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi”)


Phân tích bài thơ “Thuật hứng” của Nguyễn Trãi.

“Công danh đã được hợp về nhàn,

Lành dữ ân chi thế nghị khen

Ao cạn vớt bèo cấy muống,

Đìa thanh phát cỏ ương sen

Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc,

Thuyền chở yên hà nặng vạy then

Bui có một lòng trung lẫn hiếu,

Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen”.


Phân tích bài thơ Tùng của Nguyễn Trãi



I

Thu đến cây nào chẳng lạ lùng,

Một mình lại thuở ba đông.

Lâm tuyền ai rặng già làm khách,

Tài đống lương cao ắt cả dùng.

II

Đống lương tài có mấy bằng mày

Nhà cả đòi phen chống khoẻ thay

Cội rễ bên đời chẳng động.

Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày.

III

Tuyết sương thấy đã tặng nhiều ngày,

Có thuốc trường sinh càng khoẻ thay

Hổ phách phục linh nhìn mới biết

Dành còn để trợ dâu này. study lol!
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
conserver
Thành viên mới
Thành viên mới
avatar

Tâm trạng : fun
Nam
Tổng số bài gửi : 3
Age : 23
Đến từ : vietnam
Châm ngôn sống : sống sao có ích
Số lần được cám ơn : 0
Điểm : 26725
Ngày tham gia : 27/04/2010

Bài gửiTiêu đề: cuoc dọ ng~ traj~   Tue Apr 27, 2010 10:04 am

Một câu chuyện về Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn vai đeo túi nải tới gần ngã ba đường chợt nghe thấy tiếng kêu khóc từ trong làng xa vọng tới.

Vừa dừng lại, hai người đã thấy một toán giặc Minh hùng hổ khiêng lợn, gà, gạo từ trong làng đi ra.

Mấy đám cháy rồi mấy đám cháy nữa xuất hiện. Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn tái người khi nghe thấy lẩn trong tiếng nổ có những tiếng kêu thảm thiết.

Trần Nguyên Hãn bậm môi đưa mắt nhìn Nguyễn Trãi. Hiểu ý, Nguyễn Trãi khoát tay:

- Hiện giờ ta chẳng giúp gì được cho dân mọn đâu. Đừng nóng mà hỏng việc.

Hai người định quay đi thì lại có tiếng kêu thất thanh. Ngoảnh lại Nguyễn Trãi đã nhìn thấy không chỉ có một toán mà là nhiều toán giặc vừa đánh nhau với trai tráng trong làng vừa lùa vội đàn trâu, bò chạy xông ra đường.



Chẳng đành lòng, nhưng nghĩ mình đang phải trốn giặc vào Lam Sơn tìm minh chủ dựng cờ phục quốc, nên Nguyễn Trãi thở dài nói với Nguyên Hãn:

- "Chở thuyền làm lật thuyền cũng là dân". Nay giặc Minh tích điều ác, nghịch lòng dân thì chúng càng mau chết. Ta chẳng đang vì cuộc sống no lành của muôn họ đó sao?

Thoáng thấy Nguyễn Trãi rơm rớm nước mắt. Trần Nguyên Hãn bối rối xốc túi nải, nét mặt đăm đăm:

- Tình hình này ta chẳng thể theo lộ quan tới Lam Sơn được đâu. Đành phải xuyên sơn, chịu vất vả vậy.

- Có xá gì! Miễn là tránh được mắt giặc. Ta cứ hướng theo con đường lai kinh mà đi.

Rẽ vào đồi rồi Nguyên Hãn còn chưa hết bực:

- Đường đất chưa đi được là bao mà bảy lần thấy giặc chặn đường cướp giật, hành hạ dân mình. Tiểu đệ những tưởng chỉ ở nơi hang ổ của giặc, chúng cậy đông mới lộng hành đến thế!

Nguyễn Trãi cướp lời:

- Trần huynh mãi đọc binh pháp không đi đây đó nên không thấy đó thôi. Tôi chẳng may phải mười năm luân lạc nên mắt thấy tai nghe đã nhiều. Ở đâu có giặc thì ở đó dân làng không được yên sống.

Từ lâu vẫn muốn hỏi về việc làm của bạn trong mười năm xa cách nhưng chưa tiện. Nhân Nguyễn Trãi nhắc tới những năm luân lạc, Trần Nguyên Hãn lựa lời hỏi những điều còn băn khoăn:

- Kể từ ngày đại huynh bị Trương Phụ bắt giam rồi được tha, người mình khởi binh chống giặc cũng nhiều mà sao đại huynh không theo phò ai cả. Ngay hai vị vương họ Trần dấy binh, thanh thế đã lớn mà nghe ngóng mãi cũng không thấy tiếng đại huynh?


Nguyễn Trãi chậm rãi:

- Kể về thanh thế thì không chỉ có cuộc dấy binh của Giản Định, Trùng Quang mới là lớn. Và không phải tôi không có ý theo phò. Ngặt vì khởi binh đánh giặc là làm một việc lớn. Mà phàm mưu việc lớn, phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu. Duy nhân nghĩa gồm đủ thì công việc mới thành được. Lẽ ấy tôi không tìm thấy trong các cuộc khởi binh đánh giặc mà tôi biết. Ngày hai vị vương họ Trần, dẫu có danh tướng Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân giúp rập, đã có lúc lấy được Nghệ An, Thuận Hóa. Nhưng thiếu chiến sách hay nội bộ chia rẽ, lại khôi phục cơ nghiệp nhà Trần, lòng nhân không mong thì nghiệp lớn sao thành?

Trần Nguyên Hãn băn khoăn:

- Đại huynh nói chí phải. Chính vậy mà tiểu đệ lo không biết hào trưởng Lê Lợi có đúng là người có chí lớn như ta hằng mong không.

- Cứ phải mắt thấy tai nghe thì mới chắc. Nhưng cứ như cung cách làm việc của hào trưởng họ Lê thì ta có thể gởi chí mình được.

Bắt đầu đường dốc, trời lại tối, hai người ngừng câu chuyện, đổi vai đeo nải vắng bước, người hơi ngả về phía trước. Trên kia, cao hơn cả những ngọn đồ cao nhất, là mảnh trăng lưỡi liềm lơ lửng xa xa, giữa bầu trời ngàn vạn ngôi sao lấp lánh.

Nguyễn Trãi giật mình choàng dậy sau giấc ngủ mê mệt, hậu quả của những ngày đi bộ. Chỉ đến lúc nhìn thấy qua rặng cây thưa, dòng sông Bùi kéo thành một vệt dài lấp loáng, lượn giữa hai dãy rừng tối đen, Nguyễn mới nhận ra, mình đang ở trên một quả đồi thuộc vùng Tốt Động.

Biết chẳng phải ngủ lại được. Nguyễn Trãi muốn đánh thức Trần Nguyên Hãn dậy để đi cho được đường đất, nhưng thấy bạn ngủ say nên không nỡ.

Đêm tĩnh mịch quá. Nguyễn Trãi kêu lên se sẻ. Nguyễn chưa từng sống ở nơi này, trong hoàn cảnh này mà sao cảnh vật đêm nay thân thiết, quen thuộc như đã từng qua. Phải rồi Nguyễn Trãi thầm nhủ. Cũng vẫn những chòm sao tháng mười trên nền trời chuyển lạnh như thế này của hơn hai mươi năm trước, Nguyễn từ biệt Côn Sơn để trở về với cha ở Nhị Khê, sau khi mẹ rồi ông ngoại lần lượt từ trần. Tự dưng nhớ lại chuỗi ngày ấy. Nguyễn thấy thương nhớ cha da diết. Tiếng rằng cha đỗ tiến sĩ lại là con rễ một tể tướng thời Trần, nhưng trước khi đổi tên Nguyễn Ứng Long thành Nguyễn Phi Khanh ra làm quan cho nhà Hồ, cha vẫn phải sống cuộc sống nghèo bằng nghề dạy học. Rồi cũng vào mùa này gần hai mươi năm trước sau khi Nguyễn đỗ Thái học sinh, cùng làm quan một triều với cha, Nguyễn những tưởng được đem tài sức cùng cha giúp Hồ Quý Ly thực hiện những canh tân, làm cho dân giàu nước mạnh. Nhưng giặc Minh xâm lược, cha con Hồ Quý Ly, cùng các triều thần trong đó có cha, đều bị giặc bắt. Khi biết cha sắp bị giải sang Ngô và chuyến đi này không có ngày về, Nguyễn thương khóc cha khôn xiết. Ngày cha và vua tôi Hồ Quý Ly bị giải về Kim Lăng (Nam Kinh), Nguyễn và em là Nguyễn Phi Hùng theo đoàn tù lên tận ải Pha Lũy với ý định sang bên kia biên giới để hầu hạ cha cho đến lúc mảng chiều xế bóng.

Bao nhiêu năm đã trôi qua, nhưng cảng vĩnh biệt đau lòng nơi địa đầu tổ quốc ấy, Nguyễn nào quên được. Nguyễn đã bắt gặp cái nhìn vừa âu yếm vừa nghiêm khắc của cha, khi nhân lúc vắng cha vẫy Nguyễn lại gần và bảo: "Con là người có học, có tài nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha. Như thế mới là đại hiếu. Lọ là cứ phải theo cha, khóc lóc như đàn bà mới là hiếu hay sao?".

Nguyễn cứ ân hận mãi lúc đó không kịp giải bày tâm sự, hứa hẹn với cha. Nhưng lời giáo huấn của cha khiến Nguyễn thấu hiểu đạo làm con và bổn phận của người dân trong lúc đất nước bị giặc giày xéo.

Thù nhà nợ nước đêm ngày thúc giục Nguyễn Trãi tìm phương nghĩ kế để rửa nhục cho nước nhà. Nhưng từ bấy đến nay việc lớn cứ canh cánh bên lòng mà nào Nguyễn đã làm được gì?

Phải chăng Nguyễn đã để năm tháng trôi qua một cách vô ích, hay đã bỏ lỡ nhiều cơ hội gây dựng việc lớn? Nguyễn không tủi hổ với vong linh cha và bổn phận của một người dân; bởi vì hơn mười năm trời qua là hơn mười năm trời Nguyễn lênh đênh nơi góc biển chân trời, tìm người nghĩa khí, ôm ấp hy vọng đánh giặc, giải phóng non sông, đem lại thái bình cho muôn họ.

Nguyễn nhớ lại bài thơ gởi chí mình làm từ ngày mới thoát khỏi tay Trương Phụ, Nguyễn đọc nhỏ:

"Thần châu từ thuở nỗi can qua
Rên xiết muôn dân đến thế mà
Tử Mỹ ôn trung Đường xã tắc
Bá Nhân chan lệ Tấn sơn hà
Thu về đất lạ lòng nhiều cảm
Đời biến lâu nay khách chóng già
Ba chục năm trời danh tiếng hão
Quay đầu muôn việc giấc nam kha"

Kể từ ngày đến Lam Sơn, Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn phải làm những công việc về nghề nông do Lê Lợi cắt đặt. Nguyễn thấy rõ, Lê Lợi có tài điều khiển công việc, nhất là lòng độ lượng bao dung đối với mọi người. Nguyễn đã dày công để tâm dò xét động tĩnh của Lê Lợi nhưng ngoài mấy nhận xét: Lê Lợi thường mua dầu nhiều hơn rượu, đêm đêm hay vắng nhà, tính tình trầm ngâm, kín đáo. Nguyễn không còn biết gì hơn. Tuy chưa đến nỗi thất vọng về con người mà ngày đêm Nguyễn hy vọng gởi chí mình, nhưng rõ ràng trong đám lá xanh thắm của niềm tin ấy, đã điểm những chiếc lá vàng. Vì vậy, đêm nay Nguyễn phải quyết dò xem thực hư việc Lê Lợi dựng cờ phục quốc! Nguyễn không thể cứ sống nửa tin nữa ngờ trong lúc mối nhục mất nước, cảnh giặc nướng dân đen vùi con đỏ vẫn ngày đêm giày vò tâm can Nguyễn.

Trời vừa tối, thấy Lê Lợi vắng nhà, Nguyễn Trãi bèn vào rừng trèo lên một cây cao, nhìn bao qusát bốn phía. Bỗng từ hang núi cách khá xa trang trại của Lê Lợi, thấp thoáng có ánh lửa hắc ra. Đoán Lê Lợi đang họp hội kín ở đó, Nguyễn Trãi hồi hộp lần mò tìm đến. Vừa tới cửa hang, Nguyễn đã nhìn rõ Lê Lợi cùng với chừng mười người nữa đang xúm quanh chiếc bàn đá, trên bàn bày biện nhiều sách mà Nguyễn nhận ra là các sách binh thư. Hồi hộp xen lẫn sung sướng. Nguyễn Trãi thấy Lê Lợi nói với mọi người:

Thế là mọi việc đã cắt đặt đâu vào đó. Các ngươi hãy gắng vì nghĩa lớn để rửa nhục mối hờn mất nước.

Không nén được niềm vui quá lớn và đột ngột, Nguyễn Trãi vừa tiến vào hang vừa nói, giọng xúc động:

- Thưa chúa công! Bao năm nay đây mai đó tìm người nghĩa khí, tôn phò minh chủ, bàn kế cứu nước, tới nay tôi mới gặp.


Lê Lợi giật mình tuốt gươm xông tới phía Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi ngỡ ngàng dừng lại:

- Tôi đến đây xin làm nông phu chính là vì công việc phục quốc của chúa công.

Nghe ra Lê Lợi vất gươm, mời Nguyễn Trãi ngồi hỏi chuyện. Khi biết người mới vào là danh sĩ Nguyễn Trãi, con Trung thư thị lang, Hàn lâm viện học sĩ Nguyễn Phi Khanh. Lê Lợi và mọi người mừng vui khôn xiết.

Lê Lợi nắm tay Nguyễn Trãi, cung kính nói:

- Thật là trời đã đem đến cho ta một lương phụ.

Lê Lợi lần lượt giới thiệu những người xung quanh với Nguyễn Trãi. Lại một lần nữa, Nguyễn Trãi sửng sốt nhận ra tên tuổi nhiều người đã từng nghe nhưng chưa biết mặt.

Nhưng nhớ ra điều gì hệ trọng, sau một phút tần ngần, Nguyễn Trãi rút từ trong tay áo tập sách đưa đến trước mặt Lê Lợi:

- Nhân đọc binh thư, lại phần nào thấu được lòng dân, xét được địch tình trong những năm luân lạc, tôi làm ra Bình Ngô sách này, mong có ngày dùng đến. Nay dâng chúa công xem xét.

Trong lúc Lê Lợi trân trọng đón lấy Bình Ngô sách, Lý Triện, Phạm Văn Xảo, Đinh Lễ kéo Nguyễn Trãi đến gần mình vui vẻ nói:

- Anh em tôi vẫn đoán sẽ có ngày tiên sinh tìm đến và dâng diệu kế.

Nguyễn Trãi mỉm cười:

- Trãi này nghe chúa công chiêu hiền đãi sĩ, mưu dấy binh thư lại mười lăm đạo nước ta đã mất, nên cùng Trần Nguyên Hãn tìm đến.

- Cả Trần tiên sinh đã tới rồi ư Lê Lợi đột ngột quay phắt về phía Nguyễn Trãi, hỏi:

- Thưa chúa công, người nông phu vừa đến với tôi chính là Trần huynh đó.

Lê Lợi giọng vui hẳn lên:

- Trời đã cho ta quân sư lại thêm một danh tướng. Có nhân tài giúp rập, việc lớn ắt mau thành.

Từ đấy, mừng vì tìm được minh chủ, lại được minh chủ chấp nhận Bình Ngô sách, giữ luôn bên mình bàn đại sự, Nguyễn Trãi phấn chấn để hết tâm trí giúp Lê Lợi trong mọi việc.

Một hôm nhân dân Lam Sơn xôn xao có nhiều người nhặt được lá rừng ghi tám chữ: "Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần". Tin kỳ lạ đó được kể lại, truyền đi như lệnh trời truyền xuống, gây nên những chấn động mạnh mẽ trong nhân dân.


Nghĩa quân đem lá nộp cho các tướng. Các tướng nộp cho Lê Lợi. Lê Lợi lúc đầu cũng ngạc nhiên. Nhưng sau khi xem xét thấy rõ có người dùng mỡ viết lên lá, kiến ăn mỡ hiện lên thành chữ thì biết ngay là kế của ai rồi.

Cầm một chiếc lá đặt trước mặt Nguyễn Trãi, Lê Lợi mỉm cười nói:

- Chẳng hay "Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần" là ý trời đã định thực chăng?

Nguyễn Trãi bình thản trả lời:

- Thưa chúa công! Cho là ý trời cũng đúng vì giặc thì dùng chính lệnh khắt khe, hình phạt tàn khóc, làm việc bạo tàn, khiến thần dân đều căm giận. Ta khởi binh chống giặc, giải thoát cho dân là làm theo lòng dân.

Thuận lòng dân thì sống, nghịch lòng dân thì chết. Ý dân là ý trời. Cho nên cho là ý trời đã định thì cũng thế.

Lê Lợi gật gù:

- Ta có lời khen ngợi diệu kế của của quân sư đó.

Cũng từ đó, hào trưởng các nơi tìm đến ngày một nhiều. Trai tráng trong vùng đến xin theo nghĩa quân ngày càng đông. Núi rừng Lam Sơn náo động tiếng reo hò của nghĩa quân, đang ngày đêm luyện tập võ nghệ.

Thấy cuộc dấy binh đã thuận lợi, ngày mồng hai tháng giêng năm Mậu Tuất theo yêu cầu của Nguyễn Trãi và các tướng, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương và xuất quân dẹp giặc cứu dân.

Chiếc lầu trúc cao ngất được dựng lên vội vã ngay trên bãi đất trước làng Bồ Đề. Trên tầng lầu thứ hai, trước chiếc kỷ thấp, giấy bút, nghiên mực bày biện sẵn sàng, Nguyễn Trãi đang đăm chiêu suy nghĩ về việc vào thành Đông Quan dụ hàng Vương Thông ngày hôm sau. Nguyễn biết, vào gặp tên giặc cáo già, lắm quỷ kế trong lúc hắn còn hy vọng trông chờ viện binh, không phải không nguy hiểm. Nhưng Nguyễn có chính nghĩa, có lẽ phải, và Nguyễn nào quản đến tính mạng mình. Điều Nguyễn đang bận tâm là phải tìm một đối sách thích hợp: Vừa cứng rắn, vừa mềm mỏng cốt làm cho Vương Thông nhận rõ điều hơn lẽ thiệt. Nay quân giặc tâm trí đã nản, kế đã cùng, nhưng Vương Thông đường đường là một tên đại tướng, hắn cần giữ thể diện. Nếu không mở mắt cho hắn thấy vua Tuyên Đức nhà hắn đang bận cuộc chiến tranh với Thát Đát, nhất là để hắn thấy rõ lòng nhân nghĩa cao cả của vua ta, thì không dễ hắn đầu hàng. Nhớ tới những lần đã vào thành giặc dụ hàng, Nguyễn thấy rõ, mỗi lần giáp mặt với chúng, tuy nguy hiểm, nhưng đễ cảm hóa được chúng hơn. Ý nghĩ ấy củng cố thêm quyết định của Nguyễn lần vào Đông Quan này.

Bỗng tự trong làng, tiếng trẻ nhỏ hát vọng lên lầu nghe rõ mồn một:

"Nhong nhong ngựa ông đã về
Cắt cỏ Bồ đề cho ngựa ông ăn".

Câu hát ngộ nghĩnh lặp đi lặp lại, khiến Nguyễn bất giác mỉm cười.

Nguyễn rời chiếc kỷ, bước ra hiên lầu, hướng về phía lũ trẻ vừa hát vừa cắt cỏ. Tiếng hát trẻ thơ lại được cất lên trên mảnh đất này, mảnh đất mà tháng trước còn rên xiết đau thương nằm trong tay giặc. Và, không phải chỉ có cái làng nhỏ bé này, mà là cả một vùng non sông rộng lớn đã như sống lại từ khi nghĩa quân của Lê Lợi và Nguyễn Trãi trùng điệp kéo về, vây chặt lấy Đông Quan, căn cứ lớn cuối cùng của giặc. Phải, Nguyễn Trãi xúc động thầm nhủ, nghĩa quân đã về. Nghĩa quân đã về trong sự đón tiếp ân cần ruột thịt của nhân dân suốt các ngả đường hành quân và cả trong tiếng hát ngộ nghĩnh nở trên môi các bé.

Nhưng để có được chiến thắng này thật không dễ dàng. Nguyễn Trãi bỗng nhớ lại cuộc hành quân thần tốc, táo bạo của nghĩa quân Lam Sơn tiến ra Bắc mấy tháng trước. Lúc ấy cả miền đất rộng lớn từ Hải Vân đến Tam Điệp, quân giặc chỉ còn cố thủ ở các thành Tây Đô, Diễn Châu, Nghệ An và Thuận Hóa. Chúng đang ngày đêm trông chờ viện binh ở Đông Quan vào cứu. Thấy sức mình đã mạnh, Lê Lợi có ý định đem quân ra Bắc đánh thẳng vào Đông Quan, thì lại được tin vua Minh cử Thành Sơn hầu Vương Thông, đốc xuất mười vạn tinh binh sang tăng viện và trao Vương Thông quyền thống lĩnh toàn quân thủy bộ thay Trần Trí.

Thấy quân giặc tăng viện, nhiều tướng nghĩa quân ngần ngại chưa muốn tiến quân ra Bắc. Lê Lợi phân vân hỏi Nguyễn Trãi:

- Khi trước quân sư nói, thấy giặc mạnh thì phải tránh trong sự đánh nhau, thấy đánh lâu mới thắng thì nhục đồ binh khí. Ta đã nghe quân sư chỉ vậy không cốt hạ thành Nghệ An để chia quân đi đánh các nơi sơ hở của giặc. Đó là diệu kế. Nhưng nay mười vạn tinh binh của Vương Thông đã ngạo nghễ vào đất Bắc. Chẳng hay nếu ta tiến quân ra đó là đánh vào chỗ mạnh của giặc chăng?

Hiểu được tâm trạng của Lê Lợi, Nguyễn Trãi đáp:

- Tâu Vương thượng! Trong lúc giặc tăng viện cho thành Nghệ An ta lấy Diễn Châu, Thanh Hóa là tránh chỗ thực, đánh chỗ hư, tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu! Nhưng trong cách dụng binh cũng có lúc phải mau chóng như thần, máy then đóng cửa như bánh xe chuyển, như đám mây bay, trong khoảng chốc lát chợt nóng chợt rét, thay đổi khôn lường thì mới dành được thắng lợi. Nay tiến ra Bắc, giặc Minh đông, ta phải ở thế lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh. Nhưng nếu dùng kỳ binh đánh quân hăng, lừa quân mệt, được thời có thế, hợp với lòng dân thì yếu hóa mạnh. Dám mong Vương thượng cứ cho quân tiến đánh.

Lê Lợi không dấu được niềm vui:

- Quân sư nói chính hợp ý ta.

Rồi ngay đêm ấy, trái với phán đoán của nhiều tướng, Lê Lợi cho hội binh ở Lỗi Giang rồi cữ ba đạo quân theo ba đường khác nhau do các tướng Phạm Văn Xảo, Lý Triện, Trịnh Khả, Bùi Bị, Lưu Nhân Chú, Đinh Lễ, Nguyễn Xí đem tám ngàn quân và ba thớt voi rầm rộ tiến ra Bắc.

Khuyên Lê Lợi tiến quân nhưng thấy quân mình quá ít so với giặc, nên dù tin vào chiến thắng, Nguyễn Trãi vẫn không khỏi lo lắng từng ngày trông chờ tin tức.

Chỉ hơn nửa tháng sau, tin đạo quân Phạm Văn Xảo đốc xuất đã thắng lớn ở Ninh Kiều diệt hai ngàn giặc truyền về khiến cho Lê Lợi và Nguyễn Trãi thêm vững tin vào chiến sách của mình. Rồi trận Cầu Mới, Xa Lộc; đặc biệt trận thắng lẫy lừng ở Tốt Động, Chúc Động làm cho Nguyễn Trãi xúc động đến cả đêm không ngủ.

Thế là chỉ mấy nghìn quân của Phạm Văn Xảo, Lý Triện, Đinh Lễ, Nguyễn Xí đã cả phá mười vạn tinh binh của Vương Thông, giết đến năm vạn quân địch, bắt sống đến một vạn tên, làm tiêu tan mọi quỷ kế của Vương Thông.

Khao quân sau trận đại thắng ấy, Lê Lợi liền rời đại bản doanh từ Lỗi Giang ra Bắc, và đội binh do Lê Lợi, Nguyễn Trãi thân đốc xuất đã đánh thẳng tới Đông Quan, dồn giặc Minh như lũ chuột chạy vào thành.

"Nhong nhong ngựa ông đã về
Cắt cỏ Bồ đề cho ngựa ông ăn".

Tiếng hát của các em bé lúc xa, lúc gần lại cất lên.

Tiếng hát kéo Nguyễn Trãi trở về thực tại.

- Thưa quân sư, Vương thượng cho lệnh triệu quân sư, Nguyễn Trãi giật mình quay lại thấy người nghĩa quân đang đứng ở bậc lên xuống của từng lầu.

Nguyễn Trãi trìu mến nhìn người nghĩa quân:

- Ngươi đi về. Ta sẽ lên ngay.

Nguyễn Trãi đi lên tầng lầu thứ nhất. Theo hướng đó, Nguyễn nhìn rõ thành Đông Quan hiện còn trong tay giặc, nằm phơi mình run rẩy.

Vừa trông thấy Nguyễn Trãi, Lê Lợi đứng dậy đón và vui vẻ nói:

- Lưu Thanh đem quân thành Tam Giang ra hàng. Thế là chỉ hai tuần trăng ta đã thu được các thành Nghệ An, Điêu Diêu, Diễn Châu, Thị Cầu, Tam Giang không tốn một mũi tên.

- Thế còn các thành Tây Đô, Tân Bình, Thuận Hóa, Khâu Ôn, Xương Giang thần cũng đã có thư dụ?

- Chỉ cần Xương Giang, Khâu Ôn chưa hàng mà thôi. Ta có lời khen mừng quân sư đó.

- Người Ngô hình nặng chính ác, mất hết lòng người. Vương thượng thì lấy nhân thay bạo, lấy trị thay loạn, bởi vậy, sĩ dân thỏa tấm lòng trung nghĩa, gắng rửa cái hổ lớn cho đất nước. Còn công của thần đâu đáng kể. Rồi đổi giọng, Nguyễn Trãi tiếp. Hiện Vương Thông xin hòa, hẹn ngày đầu hàng, nhưng quân giặc trong thành vẫn đào bới, khiêng vác nhốn nháo. Rõ là chúng chưa thật bụng.

Lê Lợi giận dữ:


- Đồ phản trắc! Quân sư hãy viết cho nó bức thư nữa, nói rõ điều hay lẽ thiệt cho nó biết. Bằng không, ta đã động binh thì quân chúng sẽ không còn mảnh giáp.

Bỗng tầng lầu rung lên tiếng chân người vội vả. Xoay người về phía cửa, Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã thấy một nghĩa quân mồ hôi đẫm áo vừa thở gấp, vừa rút từ tay áo cuộn giấy bọc sáp, cung kính đưa cho Lê Lợi.

- Tâu Vương thượng! Có tin cấp báo từ Pha Lũy gửi về. Chuyển bức thư đã xem xong cho Nguyễn Trãi, Lê Lợi nói qua hàm răng nghiến chặt:

- Thằng nhãi Tuyên Dức! Mi lại sai mười lăm vạn viện binh cố tình gây thảm họa binh đao với ta.

Lập tức, Lê Lợi cho triệu các tướng đến lầu Bồ Đề ngay đên ấy. Trong buổi họp, nhiều tướng xin hạ gấp thành Đông Quan rồi dốc toàn lực ra đánh quân cứu viện của giặc. Nhưng y theo kế của Nguyễn Trãi, Lê Lợi nói với các tướng:

- Đánh thành là hạ sách, ta đánh thành vững hàng tháng, hàng năm không hạ nổi, quân ta sức mệt, khí nản. Nếu viện binh của giặc đến thì mặt trước mặt sau lưng đều bị giặc đánh, đó là con đường nguy. Sao bằng nuôi lấy sức quân, giữ lấy nhuệ khí để đợi viện binh của giặc. Viên binh của giặc bị phá thì quân trong thành tất phải hàng. Làm một việc được cả hai, đó mới là toàn kế vậy!

Nguyễn Trãi nói tiếp những điều đã bàn với Lê Lợi:

- Trong hai đạo viện binh của giặc thì đạo của Kiềm Quốc công Mộc Thạnh có tuổi, trải việc đời đã nhiều, đường đi lại hiểm trở, tất hắn không chịu tiến binh một cách sốc nổi. Còn đạo của An Viễn hầu Liễu Thăng cậy có quân lắm, ngựa nhiều, hắn ỷ thế khinh thường ta mà tiến quân ào ạt. Vậy ta phải dốc sức diệt đạo viện binh này. Diệt được đạo quân này thì đạo quân Mộc Thạnh không đánh mà tan; Vương Thông cùng kế phải xin hàng.

Ngừng một lát, Nguyễn Trãi tiếp hướng về phía Lê Lợi:

Còn lẽ nữa, theo ý thần, muốn chắc thắng đạo binh mười vạn của Liễu Thăng trước, phải hạ kỳ được thành Xương Giang đã. Bởi vì thành Xương Giang nằm trên lộ Lạng Sơn đến Đông Quan đánh Xương Giang là đánh thông đường để đại binh ta lên tận Lạng Sơn chặn giặc.

Một nghĩa quân phóng ngựa vun vút vào danh trại. Nhảy từ trên mình con chiến mã đã sủi bọt mép xuống đất, người nghĩa quân vội lên chiếc lầu vút cao nhất.

Tâu Vương thượng, thưa quân sư, người nghĩa quân vừa thở gấp vừa nói, quân ta đã đại thắng: Liễu Thăng bị chém ở núi mã An cùng với hơn vạn đầu giặc. Thôi Tụ, Hoàng Phúc bị lừa đến Xương Giang rồi bị bắt sống. Tiểu thần được lệnh đi gấp về báo tin và nộp các ấn tín của bọn tướng giặc.

Lê Lợi, Nguyễn Trãi vui mừng khôn xiết.

Rồi, sau khi thân mặt phủi lớp bùn trên tà áo chẽn của người nghĩa quân và tiễn ra tới cửa, Nguyễn Trãi trở lại nói với Lê Lợi:

Vận nước thế là đã định đoạt. Thần kính mừng Vương thượng!

Lê Lợi cảm động:

- Nếu ta nghe lời các tướng dốc sức đánh Vương Thông trước rồi mới cự với Liễu Thăng hoặc không gấp hạ thành Xương Giang thì ta đâu thắng lợi nhanh chóng dường này. Chiến thắng này là nhờ chiến sách của quân sư. Không có quân sư ta không có ngày nay.

Tiếng reo hò mừng tin thắng lớn của nghĩa quân làm náo động cả quân doanh. Hòa trong niềm vui đó, Lê Lợi mỉm cười với Nguyễn Trãi:

- Bây giờ quân sư định liệu thế nào?

Như đã lường trước sự việc, Nguyễn Trãi đáp:

- Mộc Thạnh chưa chịu tiến binh. Vương Thông quỷ quyệt phản trắc là trông vào toán viện binh của Liễu Thăng.

- Bây giờ ta gửi cho mỗi tên tướng giặc ít tù binh cùng với sắc thư, phù tín, ấn chương của Liễu Thăng, Lê Lợi tươi cười ngắt lời Nguyễn Trãi, thì Mộc Thạnh chỉ có chạy, Vương Thông chỉ có hàng. Ý quân sư định thế chứ gì?

- Tâu Vương thượng Nguyễn Trãi phấn chấn đáp: Quả là ý thần định thế. Nhưng "Chó cùng rứt giậu" nên vẫn phải đề phòng chúng liều chết. Vương thượng nên mật sai Phạm Văn Xảo một phen ra tay đánh Mộc Thạnh. Còn thần xin hạ lệnh cho các tướng vây chặt Đông Quan, một mặt dụ hàng, một mặt sẵn sàng giáp chiến.

Lê Lợi trầm ngâm:

- Lòng nhân nghĩa của quân sư cảm hóa được cả cỏ cây, muôn vật. Nhưng lần này Vương Thông còn tráo trở thì chúng không còn được tha tội chết.

Đêm đã gần sáng mà Nguyễn Trãi vẫn chong đèn ngồi trước kỷ cắm cúi viết. Nguyễn không còn nhớ là Nguyễn đã thức mấy đêm như thế, và không phải Nguyễn không khỏi cảm thấy mệt mỏi. Song, niềm vui thắng trận, mong ước sắp rửa được nợ nước thù nhà, đã tiếp sức cho Nguyễn. Không vui sao được, khi mấy hôm trước, tin đạo viện binh của Mộc Thạnh bị đánh tan, Mộc Thạnh phải một mình một ngựa chạy tháo thân về nước. Còn Vương Thông, dẫu có cứng cổ chưa hàng, nhưng trước sau hắn sẽ phải đầu hàng.

Nguyễn đang viết thơ thảo Bình Ngô đại cáo theo ủy thác của Lê Lợi. Nguyễn say sưa sống lại từng chặng gian nan của cuộc kháng chiến với tất cả sự rung động sâu sắc của tâm hồn mình.

Nguyễn dừng bút, ngả người trên thành ghế cầm lấy bản thảo, đọc lại mấy đoạn đã viết từ đêm trước:

"... Xét như nước Đại Việt ta
Thật là một nước văn hiến...
Trải Triệu Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương.
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Mà hào kiệt không bao giờ thiếu..."

Nguyễn đọc lại hai lần đoạn văn và hài lòng vì nó đã lột tả được lòng tự hào về non sông đất nước; đặc biệt tuyên ngôn được dụng ý; nước Đại Việt và nước Ngô đều từng làm chủ một phương như nhau.

Đọc lại, nhưng có lúc Nguyễn Trãi phải nghiến răng lại, có lúc muốn đứng vùng lên y như Nguyễn tận mắt nhìn giặc Minh hành hạ dân mình:

"... Thui dân đen trên lò bạo ngược
Vùi con đỏ dưới hố tai ương
Dối trời lừa người, kế gian đủ muôn nghìn khóe
Cậy binh gây hấn ác chứa gần hai chục năm..."

Nguyễn đọc tiếp:

"...Chính lúc nghĩa binh mới nổi.
Là lúc thế giặc đang hăng..."

Nguyễn buông tập giấy, đắm mình trong suy tưởng. Mười năm trời! Mười năm nằm gai nếm mật:

"... Khi Linh Sơn lương cạn mấy tuần:
Lúc Khôi Huyện quân không một lữ..."

Nhưng cũng là mười năm bền bỉ, dẻo dai, mưu trí và dũng cảm, quyết tâm chống giặc để những chiến công chói lọi nở hoa và ghi khắc mãi vào sử sách, vào lòng người.

Hào hứng ôn lại từng trận chiến thắng của nghĩa quân; nhớ lại lúc nghĩa quân bị tổn thất nặng nề, phải rõ nước mặt thịt voi trận mà nay nghĩa quân đã trùng trùng, điệp điệp đang xiết chặt lấy Đông Quan, Nguyễn tưởng như mình đang đi giữa hàng quân, giẫm lên xác giặc. Nguyễn ghi vội những ý mới nảy.

"... Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Gươm mài đá, đá cũng phải mòn
Tổ kiếm hỏng làm toang đê vỡ
Trận gió rung rụng trúc lá khô..."

Nguyễn lại ngả người vào thành ghế, căng óc tìm ý rồi lại viết. Cho đến lúc phải lên đèn, Nguyễn mới viết những câu cuối, lòng phấn chấn lạ thường:

"... Ôi một gươm đại định tạo thành công nghiệp vô song
Bốn biển lặng yên, rộng ban duy tân tuyên cáo.
Báo cáo xa gần mọi người cùng nghe".

Lê Lợi cho mời Nguyễn Trãi vào đại bản doanh Bồ Đề để cùng tiếp sứ của Vương Thông, Sơn Thọ đến "Xin hòa" và rút quân về nước.

Nghe Nguyễn Trãi, Lê Lợi ưng thuận cho hòa. Nhưng lúc ấy, các tướng lĩnh vì hờn căm sự tàn ngược của giặc nên đã khẩn khoản xin đánh. Một lần nữa, Lê Lợi lại hỏi ý kiến Nguyễn Trãi, nhân thể để Nguyễn nói với các tướng, Nguyễn Trãi tâu:

- Giặc Minh hung tàn, lòng người chứa oán đã sâu, nay muốn giết hết bọn chúng đi để trả thù xưa không phải là không có lẽ. Tình hình quân giặc lúc này, mình muốn phá vào xào huyệt, ăn gan uống máu để rửa mối thâm thù không phải là một sự khó khăn. Nhưng thần trộm nghĩ như vậy sẽ kết mối thù với triều Minh quá sâu... Chi bằng ta thừa lúc này, kẻ kia lâm vào thế cùng, mà cùng họ hòa hiếu để tạo phúc cho cả sinh linh hai nước.

Lê Lợi và các tướng đều nghe theo.

Ngày 22-11-1427, ở ngoại cửa Nam thành Đông Quan, một đài cao được dựng lên vội vã. Bọn Vương Thông mở cửa thành lúc nhúc chui ra làm lễ tuyên thệ trước mặt Lê Lợi, Nguyễn Trãi và các tướng nghĩa quân xin nộp thành để bảo toàn tính mạng rút về nước.

Tám vạn quân giặc sống sót sau đó lủi thủi ra đi. Trong lễ chiến thắng tưng bừng ấy, Lê Lợi, Nguyễn Trãi dẫn đầu đoàn quân rầm rộ tiến vào Đông Quan.



Đã được trở lại tự do nhưng Nguyễn Trãi buồn lắm. Dù Nguyễn Trãi vẫn được phong tước Quan phục hầu; về quan chức, Nguyễn vẫn giữ chức Nhập nội hành khiển làm bộ thượng thư, kiêm quản công khu mật viện như khi luận công ban thưởng sau chiến thắng giặc Minh, Nhưng Nguyễn không được vua Lê Thái Tổ tin dùng nữa.

Nguyễn không lạ gì Hàn Tín trước khi bị Hán Cao Tổ giết đã biết rằng, những kẻ dùng mình khi sẽ không dùng mình khi đế nghiệp đã thành. Nguyễn còn hiểu về cuối đời Lê Lợi lâm bệnh, thái tử Nguyên Long còn nhỏ, lại ham chơi bời nên rất lo ngại uy tín của một số công thần. Nguyễn chưa gặp phải nạn lớn là vì trong tay Nguyễn không có binh quyền; có lẽ còn vì đời Nguyễn quá trong trắng, đến nỗi vua khó gán tội cho Nguyễn.

Nguyễn vẫn còn làm quan. Nhưng làm quan mà như đi ở ẩn. Nỗi khổ tâm bị Lê Lợi bạc đãi; cảnh sống nghèo túng giày vò khiến Nguyễn phải bậm môi, kìm nước mắt khi gửi nỗi lòng vào bài thơ mới viết. Nguyễn ngậm ngùi đọc lại:

"Góc thành Nam lều một gian
No nước uống thiếu cơm ăn
Con đòi trốn dường ai quyến
Bầy ngựa gầy thiếu kẻ chăn
Ao bởi hẹp hòi không thả cá
Nhà quen xú xứa ngại nuôi vằn.
Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải
Góc thành Nam lều một gian"

Tuy nhiên, Nguyễn không cực lòng vì phải sống trong cảnh nghèo túng. Nguyễn bao giờ chẳng tự nhủ:

"Bữa ăn dù có dưa muối
Áo mặc nài chi gấm là".
"Hài cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh
Áo bô quen cật vận xênh xang"

Điều khiến cho Nguyễn đau đớn, thất vọng là hoài bão trị nước, an dân, giúp nghiệp trị bình thế là không làm được.

Từ những ngày còn đọc binh thư, Nguyễn đã ước rằng, sau khi đánh đuổi được giặc Minh, sẽ xây dụng một xã hội thịnh trị như vua Nghiêu, vua Thuấn.

Xã hội mà Nguyễn muốn kiến lập sau khi đuổi giặc Minh là xã hội mà vua phải xứng đáng làm vua. Người làm vua "Phải trọng nhân nghĩa" làm điều nhân nghĩa, phải "Thích nghe, thích xét", phải "Rũ lòng thương yêu muôn dân", "Chớ thưởng bậy vì tư ân", "Chớ phạt bừa vì tư nộ".

Sau vua, Nguyễn chú ý đến những người "Cư quan nhiệm chức". Nguyễn muốn "Người có chức vụ coi quân trị dân", phải theo đạo nhân nghĩa của vua. Người đó không được "Che ác với vua" không "Kết lập bè đảng", không "Vụ ích cho riêng mình". Người "Cư quan nhiệm chức còn phải là người rất thẹn thùng" về "đẹp cung thất, cao đài tạ", và cũng "Thẹn thùng" về những việc làm "Theo ý mình, ức lòng người". Họ phải luôn nhớ rằng "Những quy mô to lớn, cao lồng lộng đều là sức lao khổ của nhân dân", khi "Ăn lộc" phải "đền ơn kẻ cấy cày", không được "Sưu cao thế nặng, vơ vét của dân cho nhiều".

Khuyên răn của người khác, trước hết Nguyễn tự răn mình:

"Cơm kẻ bất nhân ăn, ấy chớ
Áo người vô nghĩa mặc, chẳng thà"

Nguyễn luôn tự nhủ lòng:

"Lòng thề bạc đen dầu nợ biến Ta thì nhân nghĩa chớ loàn đan".

Sống giữa triều đình phong kiến, Nguyễn chưa bao giờ mưu cầu cuộc sống giàu sang phú quý. Nguyễn luôn vui với cuộc sống giản dị, thanh cao và khuyên mọi người sống giản dị, thanh cao, Nguyễn nhớ Đỗ Mộng Tuân, bạn đỗ cùng khoa với Nguyễn, có lần đi Côn Sơn phải nói: "Nhà quan tri tam quán sự mà lạnh lẽo như một dòng nước; bốn vách trống trải xác xơ nhưng rất giàu sách vở".

Nguyễn lặng đi ngồi suy tưởng. Nguyễn cũng không nhớ Nguyễn ngồi như thế từ bao giờ, Nguyễn chỉ thấy càng suy tưởng càng thấy chản nản.

Nguyễn tự hỏi: Phải chăng, ước muốn một xã hội thịnh trị, mọi người đều no đủ, thư thái "Mặt trời mọc thì đi làm, mặt trời lặng thì đi ngủ, đào giếng mà uống, cày ruộng mà ăn" là trái với ý vua Thái Tổ. Lại nữa, cuộc sống thanh đạm, vui với cái nghèo của Nguyễn, cũng là một cớ để bọn Lê Sát, Lê Vân ghen ghét, kéo bè đảng chống lại Nguyễn?

Không thể khác được, Nguyễn Trãi quyết định trở về Côn Sơn với tâm sự u uất:

"Ngoài năm mươi tuổi chân thế
Ất đã tròn bằng nước ở bầu".

Trở về Côn Sơn vui với rặng thông, rừng trúc, lánh xa triều đình bội bạc, Nguyễn Trãi thấy tâm hồn thư thái đôi chút. Chưa lúc nào Nguyễn làm nhiều thơ như là lần trở về Côn Sơn này. Làm thơ để nói ý mình về nhiều lẽ đời, đã thực sự trở thành niềm vui của Nguyễn.

Mang theo tâm sự của con người thất vọng trước những hoài bão lớn, Nguyễn biết dù thơ vẫn có cái hùng, cái đẹp của tạo vật, nhưng không giấu được nỗi buồn trải ra mênh mông. Nguyễn đọc lại bài "Côn Sơn ca" vừa làm hôm trước mà lòng còn xúc động:

"Côn Sơn có khe
Tiếng nước chảy rì rầm
Ta lấy làm đàn cầm
Côn Sơn có đá
Mưa xối rêu xanh đậm
Ta lấy làm chiếu thảm
Trong núi có thông
Muôn dặm rờn rờn biếc một vùng
Ta tha hồ nghỉ ngơi ở trong
Trong rừng có trúc
Nghìn mẫu in biếc lụa
Ta tha hồ ngâm nga bên gốc..."

Nguyễn dừng lại thở dài ngao ngán. Nguyễn đã muốn đắm mình trong muôn màu hoa lá để làm kẻ "Di thần di lão" mà cảnh như sinh tình, nhắc nhở:

"... Người sao còn chửa đi về
Nửa đời bụi bặm còn lăn lóc
Muôn chung nghìn đỉnh có làm gì
Nước lã cơm rau miễn tri túc..."

Nguyễn Trãi lướt qua để đọc phần cuối, lòng băn khoăn như khi hạ bút làm thơ:

"... Người đời trăm tuổi
Rốt cuộc như thảo mọc
Vui buồn lo sướng đổi thay nhau
Một tuổi một héo vẫn tương tục
Cồn hoang lầu đẹp cũng ngẫu nhiên
Chết rồi ai vinh với ai nhục?
Nhân gian nếu có bọn sao do
Khuyên hãy nghe ta ca một khúc. "

Trở về Côn Sơn vùng ra khỏi vòng vây ngột ngạt của bọn Lê Sát, Lê Vân, Nguyễn không muốn nhắc đến chúng nữa. Nhưng Nguyễn không làm được điều ấy. Nguyễn vẫn thấy được bọn tham quan như loài cỏ xấu, cứ mọc lên xanh tươi mà Nguyễn thì bất lực chưa chặn chúng lại được, Nguyễn cầm bút ghi ý thơ:

"... Lòng người một sự yêm chưng một
Đèn khách mười thu lạnh hết mười.
Phượng những tiếc cao, diều hãy lượn
Hoa thì hay héo cỏ thường tươi".

Có lúc Nguyễn định yên tâm với việc "Cày nhàn câu vắng" nhưng Nguyễn nào hết băn khoăn:

" Còn một lòng âu lo việc nước
Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung "

Vì vậy, sau khi Lê Lợi chết, được vua Lê Thái Tôn vời đến, Nguyễn Trãi lại sẵn lòng ra giúp nước.

Ngay từ những ngày trở lại triều đình, thấy vua còn trẻ lại ham chơi bời, mặc cho bọn Lê Sát lộng hành Nguyễn không khỏi băn khoăn. Nhưng tin vào sự trong sạch của mình, lo đến dân đến nước, Nguyễn yên lòng gánh vác công việc.

Nhưng bọn tham quan đâu có để cho Nguyễn làm việc.

Năm 1434, vua Lê Thái Tôn sai Nguyễn Trãi viết biểu văn để sang nhà Minh cầu phong. Tờ biểu viết xong, viên nội mật viện Nguyễn Thúc Huệ và viên học sĩ Lê Cảnh Xước muốn đổi mấy chữ. Vốn đã biết bọn này dốt nát lại hay đục khoét dân, bè đảng của đại tư đồ (Tể tướng) Lê Sát, Nguyễn trãi nổi giận mắng chúng:

- Đổi với chác gì? Các ông giỏi sao không viết thay tôi? Hiện nay trong đương hạn hán mà sở dĩ có tai nạn ấy chính là tự lũ các ông. Các ông chỉ là đồ thích sưu cao thuế nặng vơ vét của dân cho nhiều, nên trời mới giáng tai tỏ ý trừng phạt.

Thúc Huệ đem lời Nguyễn mách với Lê Sát, Lê Vân. Bị chỉ trán vạch tên, bọn chúng lồng lộn tức tối.

Theo lệnh của Lê Sát, Lê Vân tức tốc gặp Nguyễn Trãi, mặt tái đi vì tức giận:

- Gây ra tai nạn không phải là lội tự bọn ty thuộc, mà chính bởi vua và tướng, sao ông quở trách nặng nề như vậy?

Nguyễn Trãi nghĩ bụng: Bọn này đem vua ra dọa mình đây. Nhưng Nguyễn không nao núng, trả lời:

- Thúc Huệ là kẻ tài thì rất tầm thường, mà lại có thói bòn vét, hắn ở vào địa vị then chốt, mỗi khi có việc tâu bày chỉ thấy bàn sự đục khoét của dân cho nặng để làm giàu cho công khố, cốt làm vui lòng Vương thượng.

Hằn thù cũ chưa qua thì Nguyễn Trãi lại đụng đầu ngay với Lê Sát.

Cũng năm 1434, có bảy tên trộm tái phạm đáng tội chết, vua Thái Tôn hỏi ý Nguyễn, Nguyễn tâu:

- Hình phạt không bằng nhân nghĩa là rõ ràng rồi. Bây giờ một lúc giết bảy mạng người thì e không phải việc làm có đức cao.

Lê Thái Tôn nghe ra. Thấy vậy, Lê Sát bảo Nguyễn Trãi, giọng mỉa mai:

- Ông là người nhân nghĩa, có thể cảm hóa kẻ ác trở nên người thiện thì đây xin giao bọn trộm cho ông.

Nguyễn Trãi đáp ngay, không lộ sự khó chịu:

Bọn chúng là đồ hung ác gian xảo. Pháp luật và chế độ của triều đình còn không răn chữa được chúng nữa là Trãi này có đức độ gì mà cảm hóa nỗi.

Về sau, vua nghiêng theo ý Nguyễn Trãi, chỉ khép tội chém hai tên cầm đầu, còn năm tên khác khép vào tội phát lưu.

Từ đấy, bọn Lê Sát, Lê Vân, Lê Ngân càng thêm căm thù Nguyễn Trãi và chúng tìm mọi cách để hãm hại Nguyễn, nhổ cái gai làm chúng ngày đêm khó chịu ở trong triều. Biết vậy, Nguyễn càng giữ mình cho sạch và không bỏ sót hành vi tội lỗi nào của chúng, làm điều nhân nghĩa cho muôn họ.

Đầu năm 1437, thấy Nguyễn Trãi có tài và trước sau giữ trọn tấm lòng trung, Lê Thái Tôn lại sai Nguyễn Trãi và hoạn quan Lương Đăng trông coi việc làm xe loan và thẩm định nhã nhạc.

Thấy rõ vua có chiều hướng ăn chơi xa xỉ trong lúc dân mọn đang đói khổ, Nguyễn Trãi lựa lời tâu:

Thời loạn dùng võ, thời bình dùng văn. Ngày nay định ra lễ nhạc chính là phải thời lắm. Song cây không có gốc không thể đứng vững, không có văn không thể lưu hành. Hòa bình là gốc của nhạc, âm thanh là văn của nhạc. Thần vâng theo chiếu chỉ thẩm định nhã nhạc không dám không hết lòng: Song học vấn sơ sài, nông cạn sợ trong ánh thanh luật khó làm được cho hài hòa. Dám mong bệ hạ rũ lòng yêu thương và chăn nuôi muôn dân, khiến trong thôn cùng xóm vắng không có một tiếng hờn giận oán sầu... Đó tức là cái gốc của nhạc.

Vua Thái Tôn ban khen và nhận lời tâu của Nguyễn.

Câu chuyện về "Lễ nhạc" tưởng đã yên ổn. Nào ngờ cuối năm ấy, Lương Đăng lại dâng kiến nghị về nghi thức các buổi coi chầu hoặc yến tiệc trong những ngày sinh nhật của vua hay tết nguyên đán.

Thấy nghi thức của Lương Đăng soạn ra có nhiều chỗ lố lăng, Nguyễn Trãi cùng Nguyễn Truyền, Đào Công Soạn, Nguyễn Liễu tâu với vua:

- Lễ nhạc là cốt ở người mới đặt ra được. Phải là bậc tài đức như Chu Công rồi sau mới không chê trách được việc đặt lễ, chế nhạc. Nay nhà vua để cho bọn bầy tôi hèn mọn ở trong cung chuyên việc xếp đặt lễ nhạc. Như vậy chẳng tủi nhục cho nước nhà lắm sao? Vả lại việc làm của Lương Đăng đều là dối vua lừa dưới, không căn cứ vào đâu cả.

Lương Đăng gượng gạo tâu:


- Thần là kẻ vô học, không biết chế độ thời xưa ra sao. Những việc bây làm đó chỉ là biết thế nào làm thế ấy mà thôi.

Nguyễn Liễu vốn bọn tay chân của Lê Sát nên không kiềm được sự tức giận, nói cho hả:

- Muôn tâu bệ hạ! Từ xưa tới nay chưa có bao giờ hoạn quan lại được tự chuyên làm nát thiên hạ như vậy.

Vừa lúc đó tên hoạn quan Đinh Thắng, vốn là bộ hạ của Lê Sát, từ trong nội đi ra, nghe thấy, mắng lớn rằng:

- Hoạn quan làm gì mà nát thiên hạ? Nếu nát thiên hạ thì phải chém đầu mày.

Quá nghe lời xúi xỉn, dèm pha của bọn Lê Sát, vua Thái Tôn bắt giam Nguyễn Liễu giao cho hình quan xét xử. Liễu bị kêt tội chém đầu. Nhưng vua xuống chiếu, giảm xuống tội thích vào mặt và bắt đày đi xa.

Biết ở lại triều đình cũng không "Cứu cho khắp" được muôn họ, Nguyễn Trãi cáo quan trở về Côn Sơn. Đó là năm 1438.

Sau ngày 2-2-1442, trước điện Hội Anh, các sĩ nhân bốn phương trẩy kinh đi Hội đã lều chõng sẵn sàng, đứng thành hàng theo lệnh viên quan giám thị chờ đợi.

Ở hàng đầu của đám sĩ nhân, Nguyễn Trực làm ra bộ quan trọng nói với bạn bên cạnh:

- Kỳ thi này do quan Nhập nội hành khiển Nguyễn Trãi chủ sự đấy!

Người bạn tỏ ra hiểu biết:

- Quan hành khiển mới từ Côn Sơn hồi triều ba hôm trước. Thấy quan trẩy kinh, anh em mình phấn chấn lắm. Được người liêm khiết, đức độ lại là bậc văn chương siêu việt như vậy chủ sự, thì chẳng còn ai cho là không công bằng.

Nghe được câu chuyện, một sĩ nhân ở hàng sau, ngạc nhiên hỏi:

- Tôi nghe rằng quan hành khiển đã xin cáo quan mấy năm trước rồi mà.

- Ô quan anh chẳng biết gì cả, Nguyễn Trực đáp, quan về Côn Sơn được một năm thì đức vua lại vời ra giúp nước. Lúc ấy quan đã sáu mươi mốt tuổi và mấy lần khước từ không được.

- Thế ra đức vua đã tin dùng quan chứ không như tiên đế.

Nguyễn Trực sôi nổi nói thêm, cố làm ra hiểu thời cuộc:

- Bây giờ đức Thái Tôn đã nhìn thấy triều chính đổ nát nên nắm lấy mọi quyền hành và trừng trị bọn quan xu nịnh. Vua đã cách chức tể tướng Lê Sát, giết Hạ Đằng Đắc, giáng chức bọn tay chân của Lê Sát là Lê Văn Linh, Lê Hy, rồi cuối cùng giết cả Lê Sát và Lê Ngân.

- À ra thế! Nếu không được quan anh chỉ bảo, ở chốn rừng xanh, tôi đâu biết.

Câu chuyện chấm dứt bằng một hồi chuông lanh lảnh cất lên.

- Hoàng đế ngự giá, tiếng viên quan nội giám tuần xước thét lớn.

Các sĩ nhân nín thở, cúi rạp mình hồi lâu.

Vừa được bình thân, Nguyễn Trực giọng vui vẻ, nói thầm với bạn:

- Đấy, quan hành khiển, người có bộ râu bạc, đứng sau đức vua ấy.

Có nhiều tiếng suýt xoa:

- Trong quan điềm đạm mà quắc thước quá nhỉ!

Lại một hồi chuông hiệu dóng dả.

Các sĩ nhân đứng như hóa đá.

Vua Thái Tôn thân ra đầu bài văn sách: "Luận về phép trị nước của các đế vương".

Xong thủ tục, vua lui về cung. Nguyễn Trãi cùng quan giám khảo cũng lần lượt về chỗ ở theo sự sắp đặt của viên quan giám thị.

Khi đã ngồi trước kỷ sơn phủ gấm, một lần nữa Nguyễn Trãi suy nghĩ về đề thi do Nguyễn thảo ra và được vua chấp thuận. Thâm ý của Nguyễn là muốn cho các sĩ nhân biết lĩnh hội phép trị nước của tổ tiên, nhân thể cũng là cách hướng các sĩ nhân phải đem học vấn ứng dụng cho đời, biết kiến giải thời cuộc, mong giúp cho việc hưng quốc an dân. Rồi Nguyễn lan man nhớ lại kỷ niệm ngày Nguyễn đi thi và cảnh Nguyễn hiện tại. Nguyễn vẫn thầm mừng lần này trở về triều nhận chức cũ kiêm trung thư sảnh tam quán sự và coi cả quân dân hai đạo Đông Bắc mà vua mới gia phong, là thời kỳ Nguyễn bằng lòng nhất. Và, vua Thái Tôn cho nắm lấy triều chính đã bắt đầu nghe lời tâu bày về chủ trương của Nguyễn. Hơn thế nữa, ông vua mười bảy tuổi này cũng đã nảy sinh tấm lòng tưởng mộ Nghĩa Thuấn, khoan nới việc hình ngục. Cứ đà ấy, Nguyễn Trãi sẽ có cơ thi triển tài năng, dựng cho nước được nền thịnh trị thái bình.

Nguyễn mãi suy nghĩ cho đến lúc có hiệu lệnh giục các sĩ nhân nộp quyển chấm và làm thủ tục cho đề thi khác.

Mấy ngày sau cùng các bậc văn bá ngồi chầu vua nghe đọc các quyển thi để định cao thấp, vua Thái Tôn đã y theo Nguyễn Trãi lấy Nguyễn Trực đỗ trạng.

Nguyễn Trãi đã chuẩn bị xong chuyến đi kinh lý dài ngày ở Bắc Đạo. Côn Sơn vốn đã đẹp, nhưng chưa bao giờ Nguyễn thấy đẹp như sáng nay. Rừng trúc, rừng thông nhuốm nắng sớm trông như tâm thảm lụa vàng óng. Cũng chưa bao giờ Nguyễn phấn chấn như lần đi kinh lý này. Nguyễn vui vì hơn tuần trăng trước, vua Thái Tôn nhân đi duyệt võ ở Chí Linh (Hải Dương) đã ngự giá tới Côn Sơn thăm Nguyễn. Cuộc đón rước định theo nghi lễ vua tôi, nhưng trái với lệ thường, vua cho được thân mật như người nhà. Vua mới đi được một tuần trăng. Cả Nguyễn Thị, người vợ yêu của Nguyễn, cũng được vua cho theo xa giá hồi triều. Lưu luyến xen lẫn mừng vui. Nhưng trước hết là vui vì Nguyễn thấy rõ vua Thái Tôn ngày càng tin dùng và kính trọng Nguyễn. Nguyễn Thị cũng được vua phong chức lễ nghi nữ học sĩ, cho ra vào nơi cung cấm, dạy dỗ các cung nhân.

Thay đôi hài cỏ bằng đôi giày trận, Nguyễn thong dong lên yên ngựa, cùng toán lính hầu cận.

Ngựa chạy gằn để lại đằng sau căn nhà lá ấm cúng. Rừng thông nhấp nhô, nô giỡn với nắng, với tiếng nhạc ngựa tản nhanh trong gió sớm.

Ngựa qua một chỗ ngoặt, Nguyễn bỗng thấy một kỵ sĩ đang phóng con chiến mã chạy ngược chiều với Nguyễn. Vừa kịp nhận ra người lính cấm vệ quen thuộc của triều đình, thì người đó đã phóng từ trên mình ngựa xuống đất, mặt tái đi:

- Thưa quan hành khiển! Vua Thái Tôn đã băng hà ở vườn Lệ Chi sau khi đi duyệt võ ở Chí Linh về. Và Tôn phu nhân đã bị bắt giam từ đó.

Nguyễn Trãi đánh rơi sợi cương đang cầm trongtay, giọng lạc đi:

- Vua Thái Tôn băng hà, Thị Lộ vợ ta bị bắt. Căn nguyên bởi đâu?

Người lính cấm vệ run run đáp:

- Quan phụ chính nói rằng Tôn phu nhân đã đầu độc vua do quan chủ mưu. Ngày hôm nay quan Thái phó Lê Khả theo mệnh vua để lại, sẽ lập hoàng tử Bang Cơ lên nối ngôi. Đã có lệnh bắt quan và quý quyến ba tộc. Nghe tin dữ, con lén đi từ đêm báo quan để quan định liệu.

- Ta có ngờ đâu đến nông nỗi này. Nguyễn Trãi nói, giọng đau đớn. Cả bọn chúng đã đồng mưu để hãm hại ta!

Rồi, sau phút bàng hoàng, nét mặt Nguyễn Trãi rắn đanh lại.

- Cảm ơn người đã vì ta mà không kể đến tính mạng. Nguyễn nắm lấy cương ngựa, cổ nhân từng nói: Ngọc tuy ngọc vọn nhưng không hủy được sắc trắng. Trúc đốt cháy được nhưng không hủy được gióng thẳng. Ta dù phải chết oan theo mệnh trời nhưng lòng ta ngay, người đời sẽ chứng rõ.

Nói xong, Nguyễn Trãi cho toán lính hầu cận trở về, còn Nguyễn thúc ngựa gióng thẳng tới Kinh.

Vốn yêu Nguyễn như cha, toán lính hầu cận nài nỉ xin theo Nguyễn hồi triều. Họ không kiềm được nước mắt khi biết Nguyễn đang đi vào cõi chết.

Nửa tháng sau, một trong những người lính hầu cận của Nguyễn Trãi trở lại Côn Sơn kể lại cho dân ở đó rằng: Ngày hôm quan hành khiển tới Kinh (15-9-1442), lập tức quan bị bắt và bị tống ngục tối. Ngày hôm sau, bà Nguyễn Phi (Nguyễn Thị Anh) người có tư thù với quan hành khiển, ngồi sau rèm trông nom việc nước thay con mới hai tuổi vừa được nối ngôi vua đã sai hình quan đem vụ án "Nguyễn Trãi chủ mưu đầu độc vua" ra xử trước Đình Cúc.

Không ai cầm được nước mắt, người lính nói khi thấy Tôn phu nhân bị giải ra trước, đầu tóc rũ rượi, máu mồm, máu mũi loang lỗ trên mặt, trên cổ. Còn quan hành khiển thì bị trói quặt cánh khủyu, tóc đã bạc trắng, người gầy tọp hẳn đi bị giải ra sao.

Trong khi cha Tôn phu nhân, hình quan trước sau chỉ gặng hỏi một điều:

- Có phải mày đã tiến độc cho đại đức hoàng đế và cứu mưu thí nghịch ấy là do Nguyễn Trãi chủ sự không?

Nghe hỏi Tôn phu nhân trước sau như một kêu oan. Nhưng mỗi lần như thế, hình quan lại thét lên lính xúm vào đánh đập tàn nhẫn. Bị đánh đau có lúc Tôn phu nhân lặng đi chết ngất. Cuối cùng, không chịu được cực hình, Tôn phu nhân phải nhận như lời hình quan hỏi.

Thế là quan hình khiển phải khép vào tội tru di tam tộc.

Ngừng lại để lau những giọt nước mắt vừa tràn ra, người lính kể tiếp:


- Ba ngày sau trên pháp trường dày đặc lính cấm vệ, sau khi viên quan đề hình tuyên đọc bản án, lần lượt quan hành khiển và Tôn phu nhân và tất cả các con cháu đều bị chém. Phải nhìn cái chết thê thảm của quan hành khiển. Người lính nói, giọng trầm hẳn đi, tất cả người xem đều khóc than khôn xiết. Hai viên hoạn quan lỡ miệng than oan cho quan hành khiển cũng bị đem chém đầu.

Còn đây nữa, người lính lục tìm trong túi áo, tờ giấy gấp vuông vắn đưa ra trước mặt mọi người nói, tôi còn sao được bài thơ cảm thán của quan hành khiển làm trước khi chết.

Một thanh niên tự nhận là học trò của Nguyễn Trãi tay run run đón lấy bài thơ rồi đọc to cho mọi người cùng nghe:

"Cuộc đời chìm nổi mấy mươi năm
Núi cũ khe xưa ướt đã lầm
Danh giá bỗng mang vòng họa thực
Lòng ngay khôn gỡ miệng quân phàm
Tự văn chưa mất lòng còn đoái
Định mệnh thôi đành chết cũng cam
Khó gửi nửa lời lên bệ ngọc
Tỏ lòng oan tuổi buổi tù giam".

Đọc xong bài thơ, người thanh niên òa lên khoc nức nở. Những người xung quanh cũng vừa khóc theo vừa ngậm ngùi kể cho nhau nghe những kỷ niệm êm đẹp về Nguyễn Trãi mà năm tháng đã khắc sâu vào lòng dạ họ.

Vua Lê Nhân Tông một hôm cùng các văn quan trong triều lên Bí thư các xem di bản của Nguyễn Trãi, đã xúc động nói với quầng thần:

- Nguyễn Trãi là người trung thành giúp đức Thái Tổ dẹp giặc, giúp đức Thái Tôn sửa sang thái bình. Văn chương và đức nghiệp của Nguyễn Trãi, các danh tướng của bảng triều không ai sánh bằng. Không may bị kẻ phụ gây biến mà người lương thiện mắc oan, thật rất đáng thương.

Hai mươi năm sau, kể từ khi Nguyễn Trãi bị hại, vua Lê Thánh Tôn xuống chiếu tẩy oan cho Nguyễn Trãi và cấp cho con cháu Nguyễn một trăm mẫu ruộng để dùng vào việc thờ cúng vị "Khai quốc công thần" chết oan.

Trong khúc "Quỳnh uyển ca", vua Thánh Tông nhận rằng:

"Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo"

(Lòng Ức Trai sáng như sao Khuê)

study
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
conserver
Thành viên mới
Thành viên mới
avatar

Tâm trạng : fun
Nam
Tổng số bài gửi : 3
Age : 23
Đến từ : vietnam
Châm ngôn sống : sống sao có ích
Số lần được cám ơn : 0
Điểm : 26725
Ngày tham gia : 27/04/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: aj thjk tho nguyen~ traj~ thj`xem   Tue Apr 27, 2010 10:11 am

Bình Nam Dạ Bạc

Phiếm phầm cao chiếm* vãn phong khinh
Mộ túc Bình Nam (1) cổ huyện thành
Đăng ảnh chiếu nhân hòa nguyệt ảnh
Thụ thanh xao mộng tính than thanh
Hồ sơn hữu ước vi sơ chí
Tuế nguyệt như lưu mạn thử sinh
Dạ bán thú lâu xuy họa giác
Khách trung thê sảng bất thăng tình.

Dịch Nghĩa:

Cánh buồm giương phập phồng trong gió chiều thổi nhẹ - Buổi tối tá túc ở huyện thành cổ Bình Nam - Ánh đèn hòa cùng ánh trăng chiếu vào người - Tiếng cây cùng với tiếng thác nước xua giấc mộng - Chí nguyện trước với núi sông giờ đã bị vi phạm - Năm tháng như trôi qua cuộc đời uổng phí - Nửa đêm tù và thổi trên lầu canh - Trong lòng khách thương xót khôn xiết.

Dịch Thơ:

Đêm Đậu Thuyền Ở Bình Nam

Buồm lộng chiều hôm ngọn gió êm
Bình Nam huyện cũ ghé qua đêm
Trăng đèn bàng bạc chung luồng sáng
Cây suối rì rào động giấc chiêm
Trót nguyện non sông đành bội bạc
Tiếc đời năm tháng phí triền miên
Giữa đêm tiếng ốc vang chòi gác
Dạ khách buồn đau lắm nỗi niềm.
dad
Bạch Mai

Giữa mùa đông, lỗi thức xuân,
Nam chi nở, cực thanh tân.
Trên cây khác ngỡ hồn Cô Dịch,
Đáy nước, ngờ là mặt Thái Chân.
Càng thủa già, càng cốt cách,
Một phen giá , một tinh thần.
Người cười rằng kém tài lương đống,
Thửa việc điều canh, bội mấy phần.

Bạch Đằng Hải Khẩu

Sóc phong xuy hải khí lăng lăng
Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng (1)
Ngạc đoạn kinh khô (2) sơn khúc khúc
Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng
Quan hà bách nhị do thiên thiết (3)
Hào kiệt công danh thử địa tằng
Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ
Lâm lưu phủ ảnh (4) ý nan thăng.

Dịch nghĩa:

Gió bắc thổi trên biển, khí trời lạnh như băng giá - Dong buồm reo (trong gió) băng qua cửa Bạch Đằng - Núi chia từng đoạn như cá sấu cá kình bị chặt lìa - Như những giáo bị chìm, kích bị gãy lớp lớp trên bờ - Sóng và cửa ải (nhờ hiểm trở) giúp cho hai (người) chống được cả trăm, đây là do trời xếp đặt - Tại nơi này từng có bao kẻ hào kiệt nên công danh - Quay đầu lại với chuyện cũ, ôi đã qua rồi ! - Trìu mến cúi nhìn ánh nước nhưng khó diễn tình ý.

Dịch thơ:

Cửa Biển Bạch Đằng

Gió biển bắc phương về giá buốt
Buồm reo vượt cửa khẩu sông Đằng
Núi như kình ngạc phân đòi đoạn
Đất tựa kích đao rải ngổn ngang
Hai chống hàng trăm, trời yểm trợ
Nhiều nên hào kiệt, đất tiềm tàng
Ôi, quay đầu lại ôn muôn sự
Ánh nước nhìn ra, ý nặng vương.

Chú thích:

(1) Bạch Đằng: con sông lịch sử của Việt Nam thuộc tỉnh Quảng Yên (Bắc Việt), bắt nguồn từ Phát Lại chảy ra biển. Cửa khẩu Bạch Đằng là một danh lam thắng cảnh, nơi đã từng hai lần quân Việt Nam đánh bại quân Trung Quốc xâm lược, Ngô Quyền (thế kỷ 10) phá quân Nam Hán, bắt sống thái tử Hoằng Thao, Trần Hưng Đạo (thế kỷ 13) đại thắng quân Nguyên, bắt được các tướng Ô Mã Nhi, Phan Tiệp, Tích Lệ...

(2) Kình, ngạc: ý nói chiến thuyền của địch (như cá kình, cá ngạc) bị tan rã như núi non đứt đoạn.

(3) Thiên thiết: ý nói địa thế thiên nhiên hiểm trở có lợi cho kháng chiến.

Cây Chuối

Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm,
Đầy buồng lạ, màu thâu đêm.
Tình như một bức còn phong kín,
Gió nơi đâu gượng mở xem.
Côn Sơn Ca

Côn Sơn (1) hữu tuyền,
kỳ thanh lãnh lãnh nhiên,
Ngô dĩ vi cầm huyền.
Côn Sơn hữu thạch,
vũ tẩy đài phô bích,
Ngô dĩ vi đạm tịch.
Nham trung hữu tùng,
vạn lý thúy đồng đồng (2) ,
Ngô ư thị hồ yển tức kỳ trung.
Lâm trung hữu trúc,
thiên mẫu ấn hàn lục,
Ngô ư thị hồ ngâm khiếu kỳ trắc.
Vấn quân hồ* bất quy khứ lai (3) ,
Bán sinh trần thổ trường giao cốc (4) .
Vạn chung cửu đỉnh (5) hà tất nhiên,
Ẩm thủy phạn sơ tùy phận túc.
Quân bất kiến Đổng Trác (6) hoàng kim
doanh nhất ổ,
Nguyên Tải (7) hồ tiêu bát bách hộc.
Hựu bất kiến Bá Di dữ Thúc Tề (8) ,
Thú Dương ngạ tử bất thực túc.
Hiền ngu lưỡng giả bất tương mâu,
Diệc các tự cầu kỳ sở dục.
Nhân sinh bách tuế nội,
Tất cánh đồng thảo mộc.
Hoan bi ưu lạc điệt vãng lai,
Nhất sinh nhất tạ hoàn tương tục.
Khâu sơn hoa ốc diệc ngẫu nhiên,
Tử hậu thùy vinh cánh thùy nhục.
Nhân gian nhược hữu Sào, Do (9) đồ,
Khuyến cừ thính ngã sơn trung khúc.

Dịch Thơ:

Côn Sơn có suối khe róc rách
Lắng nghe như tiếng phách gần xa
Có mưa gội đá chan hòa
Một màu xanh biếc mượt mà nệm rêu

Thông tùng mọc rảnh đều vạn dặm
Quả là nơi êm thắm nghỉ ngơi
Rừng tre nghìn mẫu xanh tươi
Ngâm nga ta cứ thảnh thơi một mình.

Tự hỏi sao chẳng đành trở lại
Đà nửa đời khổ ải gian truân
Sá gì danh lợi phù vân
Rau rừng nước suối đủ cần ngày qua.

Người chẳng thấy, giàu xưa nhắc mãi
Đổng Trác, vàng, Nguyên Tái, hồ tiêu?
Nhà Chu, Bá Thúc đâu theo
Thú Dương ẩn trốn, chịu điều thiệt thân.

Hiền ngu rõ, dù phân hai phía
Sở dục đều một nghĩa như nhau
Trăm năm chẳng trước thì sau
Khác gì cây cỏ, lọ cầu bi hoan.

Tươi tốt đấy, héo tàn cũng đấy
Động núi như lầu giãy dọc ngang
Xuôi tay, hèn khác gì sang
Vinh hơn gì nhục, một đường ấy thôi.

Sào, Do ai chuộng trên đời
Hãy vào chốn núi nghe lời ta ca.

Bản dịch của Lê Cao Phan

Chú thích:

* Chép theo Ức Trai Thi Tập là hồ. Ức Trai Tập và Nguyễn Trãi Toàn Tập ghi là hà, nghĩa cũng tương tự.

(1) Côn Sơn: Một ngọn núi ở xã Chí Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương (Bắc Việt), trên núi có động Thanh Hư, dưới có cầu Thấu Ngọc, đều là thắng cảnh (theo sách Quảng Dư Chí). Đời Trần, Trúc Lâm thiền sư dựng am ở đây, và trạng nguyên Lý Đạo Tái (tức sư Huyền Quang) sau khi từ chức trở về nhập thiền và trụ trì chùa Ân Tứ ở núi này. Triều Trần, quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, ông ngoại của Nguyễn Trãi, thường ngâm thơ uống rượu ở núi Côn Sơn sau khi từ chức vì can gián Hồ Quý Ly chuyên quyền mà không được. Tác giả từng thừa hưởng cơ ngơi của ngoại tổ.

(2) Có sách chép: Côn Sơn hữu tùng, vạn cái thúy trùng trùng.

(3) Quy khứ lai: bỏ đi về. Lấy theo ý của bài Quy Khứ Lai Từ của Đào Tiềm đời Tấn, Trung Quốc.

(4) Giao, cốc: chất keo và cái còng tay. Ý nói sự ràng buộc.

(5) Chung, đỉnh: vật để đo lường và cái vạc lớn. Khi nói miếng đỉnh chung là ngụ ý hưởng nhiều bổng lộc.

(6) Đổng Trác: người cuối đời Đông Hán (Trung Quốc), một đại thần gian ác. Khi vua Hán Linh đế chết, Đổng Trác ở chức Tiền tướng quân phế vua thiếu đế và giết Hà Thái Hậu, tự phong chức Thừa tướng, chuyên quyền giàu sang rất mực. Nhưng cuối cùng bị Lữ Bố theo mưu Vương Doãn giết chết, gia sản bị tịch thu.

(7) Nguyên Tái: người đời Đường (Trung Quốc) thời vua Đại Tông giữ chức Trung thư thị lang, chuyên quyền, tham nhũng, vua khuyên nhiều lần không được, bắt phải tự vẫn.

(8) Bá Di, Thúc Tề: tương truyền là hai anh em con vua nước Tô Trúc đời nhà Thương. Khi Võ Vương nhà Chu diệt nhà Thương, hai anh em can không được (lấy lẽ tôi không đánh vua) nên không phục, quyết không ăn thóc nhà Chu, bỏ vào núi Thú Dương, chịu ăn rau mà chết đói.

(9) Sào, Do: Sào Phủ và Hứa Do, hai cao sĩ đời thượng cổ Trung Quốc và đều không ưa danh lợi, lên núi ở ẩn. Tương truyền vua Nghiêu hai lần mời Hứa Do, định nhường ngôi trị vì thiên hạ nhưng Hứa Do đều từ khước, lại còn ra bờ sông rửa lỗ tai! Sào Phủ dắt trâu xuống định cho trâu uống nước, nhưng khi nghe Hứa Do nói vì sao rửa tai bèn kéo trâu lên, sợ nước ấy sẽ làm bẩn miệng trâu!


Cúc

Người đua nhan sắc thủa xuân dương,
Nghỉ, chờ thu: cực lạ nhường!
Hoa nhaÜn rằng đeo danh "ẩn dật",
Thức còn phô, bạn khách văn chương.
Tính tình nào đoái bề ong bướm,
Tiết muộn chẳng nài thủa tuyết sương.
Dầu thấy xuân lan cùng lọn được,
Ai ai đều có mỗ mùi hương.


Chí Linh Sơn Phú

Rồng thiêng dậy, bay rợp Lam Kinh
Giáo trời chỉ, dẹp tan bắc binh
Dựng nước thành công nhiều khó nhọc
Miền Tây sông núi hẳn anh linh
Ôi ! Vua ta tài thánh vũ
Đứng lên bốn phương kinh dinh
Vận nước gian truân, khổ tâm lo tính
Thấy lẽ tất yếu của trời càng quyết chí để nghiệp thành
Nhờ thế ngày nay Hồ Việt đưọc một nhà,mà núi này cũng lưu danh muôn thuở
Khi nghĩa quân mới dấy là lúc thế giặc đương hăng
Anh hào cả nước lưa thưa như lá thu gặp sương
Chí nuốt giặc Ngô, ai Chủng, ai Lãi
Mưu dựng nghiệp Hán, ai Bình, ai Lương
Vua ta ẩn náu núi này, đành bặt tăm hơi, bưng kín ánh sáng
Vợ con lưu lạc,quân sĩ tha phương
Trong cảnh khốn vẫn bền lòng, vững tin ở ngày hưng vượng
Lấy giáo sắt làm áo mặc, lấy rễ lau làm quân lương
Chí rộn ràng lo khôi phục, lòng u uất thật khôn lường
Tưởng núi này lúc ấy khác nào đất Mang Đăng khi Hán hoàng khởi nghiệp
Biết người, biết mình, khi mềm, khi mạnh
Chờ thời, rình mệt, giấu nhọn, che sắc
Gôi củi nằm gai, ngậm cay nuốt đắng
Lo rửa nhục trước,g iành lại quê hương
Tưởng núi này khi đó khác nào đất Cối Kê thời Việt vương ẩn náu
Thế rồi, thu nhặt tàn quân,nuôi dưỡng ân cần
Trong sửa chiến cụ, ngoài giả hoà thân
Quyên tiền mộ lính, giết voi khao quân
Ai cũng thân người trên, chết cho người trưởng, cố sức để đền ân
Từ đấy,luyện quân kén tướng, đánh địch ra kỳ
Chết vinh hơn sống nhục, biết quân ta dùng đuợc
Lấy của giặc đánh giặc, thu quân lương vũ khí
Vẹn toàn vững kế, một mũi tên không để phí
Cầm Bành rạp đầu dâng đất
Phương Chính khiếp vía chạy dài
Bèn giữ hiểm để lập công
Lại nhiều phương lừa đánh địch
Đêm lửa đốt, ngày cờ bay
Sớm chiếm Đỗ Gia, giành thế tiện trên núi ấy
Trước vượt Khả Lưu, đánh đắm địch trên sông này.
Nhưng thịnh đức của vua ta ngày nay,chỉ quy mô rộng lớn của Hán Cao Tổ mới sánh kịp
Còn như Câu Tiễn, ngoài chí phục thù là đáng kể, thì trong muôn phần không so được với vua ta
Đến như : uy thần chẳng giết, đức lớn hiếu sinh
Nghĩ kế nước nhà trường cửu
Tha cho mười vạn hàng binh
Gây lại hoà hảo hai nước
Dập tắt chiến tranh cho muôn đời
Địch phải theo thượng sách : hai nước vẹn toàn dân được an ninh
Như thế thì thịnh đức của vua ta Cao tổ nhà Hán sao sánh kịp
Vua ta phải sánh ngang hàng với hai đế ba vương lừng danh thuở trước
Than ôi ! Xưa nay đi lại, trăm đời nên nghĩ
Nghiêu nổi dậy từ Đường hầu, Thuấn khởi dậy tự hàn vi
Thành Thang dấy nghĩa nơi đất bạc, Thái vương khởi binh tại núi Kỳ
Nhiều hoạn nạn là nền dựng nước
Lắm lo toan là gốc trị vì
Biến cố trải nhiều thì suy nghĩ sâu
Mọi việc lo trước thì thành công kì
Nối nghiệp đế vương,không thể khác thế
Vậy thì vua ta dựng nghiệp thật đã tự núi này trở đi
Công cao đức cả của vua ta cũng sẽ cùng núi này hùng vĩ muôn đời
Bèn cúi đầu chắp tay, dâng lời ca rằng
trời sinh vua thánh,đất dấy nghiệp vương
Càn khôn mờ mịt, vận hội phi thường
Nhìn Linh Sơn cao vút, nhớ những ngày gian khổ
Vỗ nghiệp vương bền vững, không một ngày xao lãng
Xin ghi thịnh đức vào đá,lưu truyền bất hủ
Ngàn vạn đời sau, vẫn cùng trời đất dài lâu.


Dục Thúy Sơn

Hải khẩu hữu tiên sơn
Niên tiền lũ vãng hoàn
Liên hoa phù thủy thượng
Tiên cảnh trụy nhân gian
Tháp ảnh trâm thanh ngọc
Ba quang kính thúy hoàn
Hữu hoài Trương Thiếu Bảo (1)
Bi khắc tiển hoa ban.

Dịch Nghĩa:

Có ngọn núi tiên nơi cửa biển - Năm trước đã nhiều lần đi lại ở đây - Hoa sen nở nổi trên mặt nước - Khác gì cảnh tiên rơi xuống trần - Bóng tháp (phản chiếu) như trâm ngọc xanh cài vào - Ánh nước như gương phản chiếu búi tóc màu xanh biếc - (Cảnh gợi) nhớ đến Trương Thiếu Bảo - Trên bia đá lốm đốm những khóm rêu hoa.

Dịch Thơ:

Núi Dục Thúy

Có ngọn núi tiên đầu cửa biển
Mấy lần năm trước đã qua đây
Lênh đênh nước tựa đài sen nở
Tiên cảnh đâu như lạc chốn này
Bút tháp tựa trâm cài ngọc biếc
Tưởng chừng nước rọi làn tóc mây
Cảnh xui hồi tưởng ngài Thăng Phủ
Bia cổ rêu phong một lớp dày.

Chú thích:
(1) Trương Thiếu Bảo: tên chính là Trương Hán Siêu, mang cung hàm Thiếu bảo do vua ban. Trương Hán Siêu tự là Thăng Phủ, quê làng Phúc Thành, huyện An Ninh (sau đổi là Phúc Âm, huyện Gia Khánh, tỉnh Ninh Bình, làm quan đời Trần, chức Tham tri chính sự. Về già ở ẩn tại núi Dục Thúy.

Du Sơn Tự

Đoàn trạo hệ tà dương
Thông thông yết thượng phương
Vân quy thiền tháp lãnh
Hoa lạc giản lưu hương
Nhật mộ viên thanh cấp
Sơn không trúc ảnh trường
Cá trung chân hữu ý
Dục ngữ hốt hoàn vương (1)

Dịch Nghĩa:

Buộc mái chèo ngắn lúc xế chiều - Vội vàng lên chiêm bái chốn cao ấy - Mây kéo về, giường nhà sư thêm lạnh - Hoa rụng xuống con suối thoảng mùi thơm - Tiếng vượn kêu dồn trong hoàng hôn - Bóng trúc vươn dài trên sườn núi quạnh - Trong cảnh thực có nhiều ý gợi - Muốn nói ra nhưng bỗng quên mất.

Dịch Thơ:

Viếng Chùa Núi

Ghé thuyền trong buổi hoàng hôn
Vội lên chiêm bái sơn môn Phật Đà
Giường thiền nhuốm lạnh mây xa
Bên bờ suối đượm hương hoa ngát mùi
Vượn chiều kêu giục liên hồi
Trên sườn núi quạnh trúc dài bóng buông
Cảnh kia gợi ý lạ dường
Giờ sao quên bẵng, nan phương diễn bày!

Bản dịch của Lê Cao Phan

Chú thích:
(1) Chữ vong đọc là vương để hiệp vần.


Họa Tân Trai Vận

Phong lưu quận thú văn chương bá
Kiều mộc (1) năng linh ngã cố gia
Tín mỹ giang sơn thi dị tựu
Vô tình tuế nguyệt nhãn tương hoa
Can qua thập tải thân bằng thiểu
Vũ trụ thiên niên biến cố đa
Khách xá hương trần (2) xuân trú vĩnh
Đằng đằng thanh mộng nhiễu yên ba.

Dịch Nghĩa:

Quận thú là người phong lưu thuộc hạng đàn anh trong văn chương - Cây cổ thụ (cây cao) như ngài khiến tôi nhớ đến nhà (gia đình) tôi - Non sông rõ ràng đẹp khiến nguồn thơ dễ đến - Năm tháng qua vô tình mắt sắp lòa - Sau mươi năm loạn ít bạn bè còn lại - Nghìn năm nhiều biến cố xảy ra trong vũ trụ - Bụi (hồng) thơm có mãi nơi quán khách mùa xuân - Mộng nhẹ cứ lân la quanh chỗ ẩn dật (khói và sóng).

Dịch Thơ:

Họa Vần Thơ Tân Trai

Phong lưu quận thú hàng văn bá
Cổ thụ xui tôi nhớ cảnh nhà
Xinh đẹp non sông, thơ dễ gợi
Vô tình năm tháng mắt gần hoa
Mười năm ly loạn thân bằng thiếu
Chẳng tận càn khôn biến cố thừa
Nhuốm bụi hồng thơm xuân quán khách
Mộng luôn quất quít chốn yên hà.

Bản dịch của Lê Cao Phan

Chú thích:

(1) Kiều mộc: cây cao. Đây nói người cao sang.

(2) Hương trần: bụi thơm. Một danh từ nhà Phật để chỉ một trong 6 thứ bụi (lục trần) là: sắc (sắc đẹp), hương (mùi thơm), xúc (đụng chạm), thanh (tiếng hay), vị (vị ngon), và pháp (tưởng tượng). Lục trần được xem như là lục cảnh (sáu điều cảnh giới), lục căn (sáu cội gốc) làm nhơ bẩn tịnh tâm (lòng thanh tịnh) của con người trong đời sống gọi là trần gian (cõi bụi bặm).


Hoa Nhài

Mài son bén phấn hây hây,
Đêm nguyệt đưa xuân, một nguyệt hay.
Mấy kẻ hồng nhan thì bạc phận,
Hồng nhan kia chớ cậy mình thay.


Hoa Sen

Lầm nhơ chẳng biến, tốt hòa thanh,
Quân tử ham, nhân được thửa danh.
Gió đưa hương đêm nguyệt tĩnh,
"Trinh" làm của, có ai tranh?
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: aj thjk tho nguyen~ traj~ thj`xem   

Về Đầu Trang Go down
 

aj thjk tho nguyen~ traj~ thj`xem

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 

 Similar topics

-
» aj thjk tho nguyen~ traj~ thj`xem
» Vụ Án Cháu Nguyễn Hoàng Anh
» Nguyễn Du
» Thịt gà nấu đông
» Nhà thờ đầu lâu, xương người.
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn đàn của những bạn trẻ đang yêu :: Trang thơ :: Thơ tình yêu đôi lứa-